CHƯƠNG 1 HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN THƯ VIỆN VỚI NHIỆM VỤ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Ở TRUNG TÂM THÔNG TIN- THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP 1. Ngành lâm nghiệp trong giai đoạn CNH-HĐH đất nước. Lâm nghiệp là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt. Nói đến lâm nghiệp trước hết phải nói đến vai trò của rừng trong nền kinh tế quốc dân và trong đời sống xã hội.
Trong Luật Bảo vệ và phát triển rừng (1991) có ghi: “ Rừng là tài nguyên quý báu của đất nước, có khả năng tái tạo lại bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái, có giá trị to lớn đối với nền kinh tế quốc dân, gắn liền với đời sống của nhân dân, với sự sống của dân tộc…”. Lâm nghiệp là một ngành kinh tế quốc dân thể hiện ở một số điểm sau: Hiện nay ngành lâm nghiệp đang quản lý 19 triệu ha rừng và đất lâm nghiệp chưa có rừng, chiếm 57% diện tích cả nước gắn liền với hàng ngàn cây số dọc theo biên giới bộ và ven biển. Trên diện tích đó có 24 triệu dân thuộc 54 thành phần dân tộc khác nhau của Việt Nam sinh sống. Vai trò của lâm nghiệp: Xã hội càng phát triển thì vai trò vô giá của rừng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái càng được nhân lên gấp bội.
Vì đất nước ta đang trong giai đoạn CNH-HĐH đất nước nên vấn đề bảo vệ môi trường, duy trì an toàn sinh thái quốc gia đang trở thành vấn đề quan tâm hàng đầu không chỉ cho thế hệ hôm nay mà cho cả thế hệ mai sau. Nạn hạn hán, lũ lụt nghiêm trọng xảy ra ở nước ta trong những năm vừa qua là “tiếng chuông cảnh tỉnh sinh thái”, là sự trả giá đắt do tài nguyên rừng bị suy thoái. Vấn đề bảo vệ rừng và bảo vệ môi trường không chỉ ở quốc gia mà vấn đề này còn đang trở thành chiến lược toàn cầu, liên kết giữa các quốc gia. 10 Ngoài ra ngành lâm nghiệp có một số vai trò sau đây: - Vai trò cung cấp: Cung cấp lâm sản, đặc sản phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của xã hội, trước hết là gỗ và lâm sản ngoài gỗ.
Cung cấp động vật, thực vật là đặc sản phục vụ nhu cầu tiêu dùng của các tầng lớp dân cư. Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp, cho xây dựng cơ bản. Cung cấp dược liệu quý phục vụ nhu cầu chữa bệnh và nâng cao sức khoẻ cho con người. Cung cấp lương thực, nguyên liệu chế biến thực phẩm phục vụ nhu cầu đời sống của xã hội.
- Vai trò phòng hộ, bảo vệ sinh thái: o Phòng hộ đầu nguồn: giữ đất, giữ nước, điều hoà dòng chảy, chống xói mòn rửa trôi thoái hoá đất, chống bồi đắp sông ngòi, hồ đập, giảm thiểu lũ lụt, hạn chế hạn hán, giữ gìn được nguồn thuỷ năng lớn cho các nhà máy thuỷ điện. o Phòng hộ ven biển: Chắn sóng, chắn gió, chống cát bay, chống sự xâm nhập của nước mặn, bảo vệ đồng ruộng và khu dân cư ven biển…. o Phòng hộ khu công nghiệp, khu đô thị, làm sạch không khí, tăng dưỡng khí, giảm thiểu tiếng ồn, điều hoà khí hậu tạo điều kiện cho công nghiệp phát triển. o Phòng hộ đồng ruộng và khu dân cư: giữ nước, cố định phù sa, hạn chế lũ lụt, hạn hán, tăng độ ẩm cho đất… o Bảo vệ khu di tích lịch sử, nâng cao giá trị cảnh quan o Lâm nghiệp còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoa học, là nơi dự trữ sinh quyển bảo tồn các nguồn gen quý hiếm.
11 - Vai trò Xã hội: Là nguồn thu nhập chính của đồng bào các dân tộc miền núi, là cơ sở quan trọng để phân bố dân cư, điều tiết lao động xã hội, góp phần xoá đói giảm nghèo cho xã hội. Nhìn chung trong mấy thập kỷ qua ngành lâm nghiệp đã có nhiều đóng góp đáng kể cho sự nghiệp CNH-HĐH, sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước. Những năm gần đây được sự quan tâm của Đảng, Chính Phủ có sự tác động hiệu quả của các cấp, các ngành chức năng và sự đồng tình của nhân dân ngành lâm nghiệp nước ta đã có những chuyển biến rất tích cực, ngành đã chuyển từ một nền lâm nghiệp lấy khai thác tài nguyên làm chính sang nền lâm nghiệp xã hội, lấy bảo vệ và xây dựng vốn rừng làm nhiệm vụ cơ bản. Công tác quản lý nhà nước về lâm nghiệp có nhiều tiến bộ, phân công, phân cấp rõ nét hơn, có hệ thống văn bản pháp luật quản lý nhà nước được ban hành tạo hành lang pháp lý cho các mặt hoạt động lâm nghiệp.
Rừng được xây dựng tốt hơn, cơ cấu kinh tế ngành có những chuyển biến tích cực góp phần phát triển nền nông nghiệp bền vững, cải thiện kinh tế xã hội nông thôn miền núi, bảo đảm an ninh quốc phòng. Vấn đề phá nương, làm rẫy đã giảm rất nhiều, việc khai thác rừng được kiểm soát chặt chẽ hơn. Công tác trồng rừng, khoanh nuôi phục hồi rừng ngày càng tốt hơn. Tuy vậy diện tích rừng vẫn bị suy giảm ở nhiều nơi, đất lâm nghiệp đã được giao khoán tương đối nhiều nhưng trách nhiệm, quyền hạn và lợi ích của các chủ rừng vẫn chưa được xác lập rõ ràng và chưa cân xứng nên chưa tạo ra động lực tốt để bảo vệ, phát triển và khoán rừng.
Ngoài ra hệ thống các làng nghề truyền thống và hộ gia đình sản xuất ra mặt hàng thủ công mỹ nghệ và đồ mộc tinh chế hàng năm cung cấp trong nước và nước ngoài một khối lượng lớn. Tuy nhiên vấn đề tiêu thụ sản phẩm còn gặp nhiều kho khăn. Vấn đề về nguồn nhân lực ngành lâm nghiệp đã có nhiều tiến bộ như: hệ thống đào tạo chuyên nghiệp có 10 trường, đào tạo được một số lượng lớn cán 12 bộ quản lý, cán bộ khoa học và công nghệ kỹ thuật, đưa công tác khuyến lâm vào phát triển sản xuất. Về hợp tác quốc tế: thực hiện chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế nhằm phát huy sức mạnh của dân tộc, kết hợp với sức mạnh của thời đại trong công cuộc phát triển của đất nước ngành lâm nghiệp đã đẩy mạnh các hoạt động hợp tác quốc tế trong nhiều lĩnh vực từ những dự án dài hạn, ngắn hạn trên phạm vi toàn quốc và tiểu vùng lãnh thổ.
Ngành đã tranh thủ được viện trợ và sự giúp đỡ của các nước và các tổ chức quốc tế như PAM, SIDA, UNDP/FAO… hỗ trợ và phát triển lâm nghiệp Việt Nam về trồng rừng, xây dựng cơ chế chính sách, đổi mới trang thiết bị, trao đổi thông tin và phát triển nguồn nhân lực. Để phát triển và giữ vững ngành lâm nghiệp, ngành đã đề ra một số mục tiêu như sau [3, tr. 24] - Môi trường: Xây dựng lâm phận quốc gia ổn định nhằm phát huy hiệu quả chức năng của rừng về phòng hộ môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học, cung cấp và điều tiết nguồn nước, điều tiết dòng chảy, giảm thiểu tác hại của mưa bão, úng lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn, chống cát bay, bảo tồn nguồn gen động vật quý hiếm, bảo vệ và tôn tạo các khu rừng di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh của đất nước. Bảo vệ diện tích rừng hiện có, đảy mạnh việc gây trồng rừng mới, cải thiện môi trường sinh thái… - Mục tiêu kinh tế: Đầu tư phát triển rừng kinh tế chủ lực (trồng rừng nguyên liệu) theo phương thức thâm canh, sử dụng giống tốt cho năng suất cao, tận dụng triệt để nguyên liệu lâm sản, đảm bảo hiệu quả kinh tế.
- Mục tiêu xã hội: Vận dụng các cơ chế chính sách thích hợp với từng vùng, từng khu vực để thu hút lực lượng lao động góp phần phát triển kinh tế- xã hội vùng sâu ùng xa, miền núi…của đất nước. Củng cố các cơ sở quốc 13 doanh đủ mạnh làm nòng cốt phát triển sản xuất, dịch vụ kỹ thuật lâm nghiệp. Coi trọng công tác cán bộ khoa học kỹ thuật lâm nghiệp có trình độ chuyên môn và quản lý tốt, đáp ứng với sự phát triển nghề rừng trong thời kỳ CNH-HĐH. - Mục tiêu quốc phòng an ninh: Tập trung xây dựng các giải rừng biên giới, rừng ven biển, hải đảo…tạo thành “Bức tường xanh” bảo vệ vững chắc từng tấc đất của tổ quốc.
Trường Đại học Lâm nghiệp trong giai đoạn đổi mới giáo dục, CNH- HĐH đất nước 1. Khái quát về Trường Đại học Lâm nghiệp Trường Đại học Lâm nghiệp (viết tắt là ĐHLN) được thành lập theo quyết định số 127/CP ngày 19 tháng 8 năm 1964 của Thủ tướng Chính phủ. Sau hơn 40 năm xây dựng và phát triển, trường đã từng bước vươn lên và trở thành một trường đại học đầu ngành , nòng cốt của cả nước về đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật lâm nghiệp, cung cấp nguồn nhân lực ở bậc đại học và sau đại học về lĩnh vực lâm nghiệp và phát triển nông thôn, thực hiện các hoạt động khoa học công nghệ phục vụ sự nghiệp phát triển tài nguyên rừng và môi trường, nông lâm kết hợp, công nghiệp phát triển nông thôn…phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn đồng bằng, thành thị, trung du, miền núi cả nước. Trường ĐHLN đã và đang thực hiện tốt nhiệm vụ đào tạo và phát triển nhân lực lâm nghiệp có trình độ cao, góp phần vào công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước, sự nghiệp CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn.
Đến nay trường ĐHLN là trung tâm khoa học công nghệ có uy tín về lĩnh vực lâm nghiệp, tài nguyên và môi trường, phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, góp phần vào sự nghiệp phát triển bền vững kinh tế xã hội, môi trường của đất nước. 14 Trong quá trình xây dựng và phát triển đến nay trường ĐHLN đã cung cấp cho ngành lâm nghiệp và cho đất nước trên 15 000 kỹ sư, cử nhân thuộc 18 ngành đào tạo, trên 369 thạc sỹ, 24 tiến sỹ thuộc 05 chuyên ngành khác nhau. Hiện tại trường đã đào tạo được 04 ngành bậc sau đại học, 1 200 học sinh dân tộc nội trú dành cho con em các dân tộc ít người miền núi nhằm tạo nguồn cán bộ đại học lâu dài về Lâm nghiệp ở miền núi, trên 100 sinh viên Lào và Cam Pu Chia….