CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Những vấn đề cơ bản về đơn vị sự nghiệp công lập 1. Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập Theo quy định tại Khoản 1, Điều 9, Luật Viên chức số 58/2010/QH12 ngày 15 tháng 11 năm 2010 thì “Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xă hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước”[13]. Theo Giáo trình Quản lý tài chính công của Học viện Tài chính năm 2007 thì: Đơn vị sự nghiệp công lập là những đơn vị do Nhà nước thành lập hoạt động công lập thực hiện cung cấp các dịch vụ xã hội công cộng và các dịch vụ nhằm duy trì sự hoạt động bình thường của các ngành kinh tế quốc dân.
Các đơn vị này hoạt động trong các lĩnh vực: Y tế, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ và môi trường, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, sự nghiệp kinh tế, dịch vụ việc làm,. Theo Giáo trình Kế toán hành chính sự nghiệp năm 2018 của TS. Đỗ Thị Huyền Trang - TS. Lê Thị Thanh Mỹ thì: Đơn vị hành chính sự nghiệp là đơn vị do Nhà nước quyết định thành lập nhằm thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nhất định hay quản lý nhà nước về hoạt động nào đó, hoạt động bằng nguồn kinh phí nhà nước cấp, cấp trên cấp hoặc bằng các nguồn khác nhằm thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao trong từng giai đoạn nhất định [20].
Có rất nhiều khái niệm về đơn vị sự nghiệp công lập và các khái niệm đưa ra đều có sự tương đồng. Như vậy, đơn vị sự nghiệp công lập là đơn vị được Nhà nước thành lập, được Nhà nước cấp kinh phí hoạt động hoặc được bổ sung từ những kinh phí có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp, để thực hiện các nhiệm vụ quản lý hành chính, đảm bảo quốc phòng an ninh và phát triển kinh tế xã hội. Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập theo việc được giao quyền tự chủ Theo Luật Viên chức số 58/2010/QH12 ngày 15 tháng 11 năm 2010, đơn vị sự nghiệp công lập được chia thành 2 nhóm như sau: Một là, đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ. Hai là, đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ.
Được giao quyền tự chủ tức là có quyền tự chủ hoàn toàn về việc thực hiện nghĩa vụ, tài chính cũng như tổ chức bộ máy nhân sự. Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập căn cứ vào nguồn thu Theo quy định tại Nghị định số 16/2015/NĐ-CP thì đơn vị sự nghiệp công lập được cơ quan có thẩm quyền xem xét để xếp vào 1 trong 4 mức độ tự chủ: Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên; Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm một phần chi thường xuyên; Đơn vị sự nghiệp công do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên. Như vậy, tiêu chí để phân loại đơn vị sự nghiệp công lập là mức độ tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị sự nghiệp, được xác định bằng công thức sau: Mức tự bảo đảm chi phí Tổng số nguồn thu sự nghiệp hoạt động thường xuyên = ------------------------------------------- x 100 % của đơn vị (%) Tổng số chi hoạt động thường xuyên Việc phân loại các đơn vị sự nghiệp công lập được ổn định trong thời gian 3 năm. Hết thời hạn 3 năm sẽ tiến hành xem xét và phân loại lại cho phù hợp với quy định hiện hành của pháp luật.
Phân loại theo cấp quản lý tài chính (theo ngành dọc), bao gồm: Đơn vị dự toán cấp I: Các Bộ, ngành và các tổ chức tương đương tại trung ương; Các sở, ban ngành và các đơn vị tương đương thuộc cấp tỉnh; Các đơn vị cấp phòng và tương đương thuộc cấp huyện thuộc đối tượng phải lập và nộp báo cáo tài chính tổng hợp cho cơ quan tài chính và KBNN đồng cấp theo quy định. Đơn vị dự toán cấp I nhận dự toán do các cấp chính quyền giao và phân bổ và giao dự toán e 8 ngân sách nhà nước cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc và đơn vị thuộc ngân sách cấp dưới trong trường hợp có ủy quyền thực hiện nhiệm vụ chi của mình và chịu trách nhiệm xét duyệt báo cáo quyết toán của các đơn vị trực thuộc, tổng hợp và lập báo cáo quyết toán ngân sách (gồm đơn vị mình và đơn vị dự toán ngân sách cấp dưới trực thuộc) gửi cơ quan tài chính cùng cấp. Đơn vị dự toán cấp II: Là đơn vị cấp dưới đơn vị dự toán cấp I, được đơn vị dự toán cấp I giao dự toán và phân bổ dự toán được giao cho đơn vị dự toán cấp III (trường hợp được ủy quyền của đơn vị dự toán cấp I), chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của đơn vị mình và công tác kế toán và quyết toán của các đơn vị dự toán cấp dưới theo quy định. Đơn vị dự toán cấp III: Là đơn vị trực tiếp sử dụng ngân sách, chịu sự quản lý của đơn vị dự toán cấp II về mặt tài chính.
Định kỳ có nhiệm vụ tổng hợp các khoản chi và nguồn hình thành kinh phí trong đơn vị lên cấp II. Việc phân chia các đơn vị dự toán thành các cấp khác nhau trong hệ thống các đơn vị hành chính sự nghiệp chỉ có ý nghĩa tương đối. Xác định một đơn vị hành chính sự nghiệp thuộc loại hình cấp dự toán nào là tùy thuộc vào mối quan hệ giữa nó với các đơn vị dự toán khác trong cùng ngành hoặc với cơ quan tài chính. Thứ bậc này sẽ bị thay đổi cùng với sự thay đổi về cơ chế phân cấp quản lý kinh tế tài chính, đặc biệt là cơ chế phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước.
Phân loại theo cấp ngân sách Theo cách phân loại này, các đơn vị hành chính sự nghiệp được chia thành 3 cấp, gồm: Một là, đơn vị dự toán cấp Trung ương: Sử dụng nguồn ngân sách cấp trung ương. Hai là, đơn vị dự toán cấp Tỉnh: Sử dụng nguồn ngân sách cấp Tỉnh. Ba là, đơn vị dự toán cấp Huyện: Sử dụng nguồn ngân sách cấp Huyện. Đặc điểm đơn vị sự nghiệp công lập Không như các doanh nghiệp hoạt động với mục tiêu lợi nhuận, đơn vị sự nghiệp công lập chủ yếu hoạt động theo mục tiêu, nhiệm vụ mà nhà nước đề ra.
Các e 9 đơn vị sự nghiệp công lập dù hoạt động ở các lĩnh vực khác nhau nhưng đều mang những đặc điểm cơ bản như sau: Được thành lập bởi cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định; Là bộ phận cấu thành trong tổ chức bộ máy của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; Đơn vị sự nghiệp công lập phải có tư cách pháp nhân; Đơn vị sự nghiệp công lập có nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước; Viên chức là lực lượng lao động chủ yếu, bảo đảm cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập; Không mang quyền lực nhà nước, không có chức năng quản lý nhà nước như: Xây dựng thể chế, thanh tra, xử lý vi phạm hành chính…Các đơn vị sự nghiệp công lập bình đẳng với các tổ chức, cá nhân trong quan hệ cung cấp dịch vụ công. Đặc điểm cơ chế quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập Quản lý tài chính bao gồm lên kế hoạch sử dụng các nguồn vốn, đảm bảo thực hiện các dự án sản xuất kinh doanh và theo dõi tình hình thu - chi, tình hình quyết toán ngân sách để từ đó thực hiện báo cáo cho các cấp lãnh đạo,… Chính vì vậy, công tác quản lý tài chính sẽ chi phối và tác động rất lớn đến tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị sự nghiệp công lập. Do đó, theo tác giả cần thiết phải nghiên cứu cơ chế quản lý tài chính; việc huy động, khai thác, quản lý các nguồn tài chính đầu tư cho các đơn vị sự nghiệp công lập cũng như quy trình lập dự toán, chấp hành dự toán và quyết toán ngân sách tại các đơn vị này. Quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện theo các nội dung sau: 1.
Về thể chế tài chính Trên cơ sở tổng kết đánh giá kết quả đạt được cũng như những bất cập phát sinh của Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập và Thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 9/8/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP, ngày 14/2/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 16/2015/NĐ-CP thay thế Nghị định số 43/2006/NĐ-CP. Nghị định này đã thể hiện rõ mục tiêu đổi mới toàn diện các đơn e 10 vị sự nghiệp công lập; Đẩy mạnh việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị đồng bộ cả về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính. Theo đó, tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp theo 4 mức độ: Tự chủ tài chính đối với đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; Tự chủ tài chính đối với đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên; Tự chủ tài chính đối với đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên (do giá, phí dịch vụ sự nghiệp công chưa kết cấu đủ chi phí, được Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá, phí chưa tính đủ chi phí); Tự chủ tài chính đối với đơn vị được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên (theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, không có nguồn thu hoặc nguồn thu thấp). Về nguồn thu của các đơn vị sự nghiệp công lập ba gồm các nguồn thu chủ yếu như sau: Nguồn thu từ ngân sách nhà nước, bao gồm cả nguồn ngân sách nhà nước đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá tính đủ chi phí.
Nguồn thu phí theo pháp luật về phí, lệ phí được để lại chi theo quy định.