Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán môi trường tại các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi" được tác giả Phạm Hoài Nam thực hiện tại Học viện Tài chính năm 2016, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Vũ Việt và PGS.TS Lê Huy Trọng, thuộc chuyên ngành Kế toán (mã số: 62.01).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong những thập niên gần đây, ô nhiễm và suy thoái môi trường trở thành vấn đề toàn cầu cũng như tại Việt Nam. Nhà nước đã ban hành Chiến lược quốc gia về bảo vệ môi trường đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Luật Bảo vệ môi trường (2014), Luật Thuế bảo vệ môi trường cùng các văn bản hướng dẫn nhằm kiểm soát hành vi gây ô nhiễm. Về phía doanh nghiệp, áp lực tuân thủ pháp lý, tối ưu hóa chi phí đầu tư môi trường và xác định đúng giá thành sản phẩm đòi hỏi nhà quản trị phải có thông tin kế toán môi trường phục vụ điều hành. Đồng thời, các bên liên quan bên ngoài như nhà đầu tư, ngân hàng, cơ quan nhà nước và cộng đồng cũng có nhu cầu tiếp cận thông tin môi trường để đánh giá rủi ro tài chính và mức độ tuân thủ nghĩa vụ xã hội của doanh nghiệp.

Tại tỉnh Quảng Ngãi, quá trình phát triển công nghiệp với sự gia tăng của các doanh nghiệp sản xuất tạo ra áp lực lớn đối với môi trường sinh thái. Mặc dù vấn đề kế toán môi trường đã được nghiên cứu rộng rãi trên thế giới, nhưng trong hệ thống kế toán Việt Nam, nội dung này vẫn còn là khoảng trống chưa được chuẩn hóa bằng các quy định và văn bản hướng dẫn cụ thể; các công trình nghiên cứu trong nước trước đó còn mang tính đơn lẻ, phân tán, chưa hình thành hệ thống tổ chức công tác kế toán môi trường hoàn chỉnh trong doanh nghiệp sản xuất.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về tổ chức công tác kế toán môi trường trong các doanh nghiệp sản xuất, bao gồm nhận diện, xác định, ghi nhận và cung cấp thông tin về tài sản, nợ phải trả, chi phí, thu nhập môi trường trên cả phương diện kế toán tài chính và kế toán quản trị.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức công tác kế toán môi trường tại các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán môi trường tại các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
  4. Đề xuất các kiến nghị với cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức công tác kế toán môi trường.

Câu hỏi nghiên cứu

Luận án tập trung giải quyết 5 câu hỏi nghiên cứu được đánh số như sau:

  1. Tại sao phải tổ chức công tác kế toán môi trường trong doanh nghiệp sản xuất?
  2. Dựa trên những cơ sở lý luận nào để tổ chức công tác kế toán môi trường trong doanh nghiệp sản xuất?
  3. Thực trạng tổ chức công tác kế toán môi trường trong các doanh nghiệp sản xuất tại Quảng Ngãi hiện nay như thế nào?
  4. Các giải pháp gì để hoàn thiện tổ chức công tác kế toán môi trường trong các doanh nghiệp sản xuất?
  5. Những định hướng cần thiết gì để tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức công tác kế toán môi trường trong các doanh nghiệp sản xuất?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tổ chức công tác kế toán môi trường trong các doanh nghiệp sản xuất.
  • Phạm vi không gian: Các doanh nghiệp sản xuất trong nước đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Khảo sát tập trung vào các doanh nghiệp thuộc nhóm có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường theo Thông tư số 04/2012/TT-BTNMT ngày 08/5/2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, có quy mô vừa và lớn (tổng nguồn vốn trên 20 tỷ đồng, số lao động trên 200 người) và có tỷ lệ nguyên giá tài sản cố định sử dụng cho hoạt động môi trường trên tổng nguyên giá tài sản cố định từ 5% trở lên. Mẫu khảo sát phát ra cho 30 doanh nghiệp thuộc 10 nhóm ngành nghề, thu về 8 doanh nghiệp thuộc 4 nhóm ngành nghề đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn lựa chọn.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào nhận diện, xác định, quy trình ghi nhận và cung cấp thông tin kế toán môi trường. Đối với bên ngoài, cung cấp thông tin tài chính qua báo cáo tài chính; đối với nội bộ, cung cấp thông tin chi phí môi trường phục vụ ra quyết định quản trị.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu sơ cấp và thứ cấp từ năm 2012 đến năm 2016; thời gian thực hiện điều tra, khảo sát thực tế diễn ra từ tháng 1/2014 đến tháng 12/2014.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các nghiên cứu trong nước

Tác giả phân loại các nghiên cứu trong nước thành 2 nhóm chính:

  1. Nghiên cứu về chi phí môi trường trong doanh nghiệp: Luận án tiến sĩ của Bùi Thị Thu Thủy (2010) tại Trường Đại học Mỏ - Địa chất nghiên cứu mô hình quản lý và hạch toán chi phí môi trường trong doanh nghiệp khai thác than, tập trung vào phân loại, tập hợp và lập báo cáo chi phí nội bộ, nhưng chưa đề cập đến việc ghi nhận, trình bày chi phí môi trường trên báo cáo tài chính và chưa vận dụng các phương pháp đặc thù như dòng luân chuyển vật liệu (MFCA) hay chi phí dựa trên hoạt động (ABC).
  2. Nghiên cứu về kế toán môi trường:
    • Tài liệu của Phạm Đức Hiếu và Trần Thị Hồng Mai (2012) làm rõ lý luận cơ bản về kế toán tài chính, kế toán quản trị môi trường và các yếu tố tài sản, nợ phải trả, chi phí, thu nhập môi trường, song chưa đi sâu vào mô hình tổ chức trong hệ thống kế toán doanh nghiệp.
    • Bài báo của Hà Xuân Thạch nghiên cứu định hướng phát triển kế toán quản trị môi trường, phân loại chi phí và thu nhập tiết kiệm, nhưng chưa đề cập phương pháp xác định chi phí và kế toán tài chính môi trường.
    • Bài báo của Phạm Quang Huy phân tích quan điểm kết hợp mục tiêu kinh tế và môi trường nhưng chưa xây dựng mô hình và phương pháp kế toán quản trị cụ thể.
    • Bài báo của Võ Văn Nhị và Nguyễn Thị Đức Loan nghiên cứu kế toán môi trường gắn với tăng trưởng xanh, đề xuất thiết kế chứng từ, tài khoản nhưng chưa phân tách rõ kế toán tài chính và kế toán quản trị môi trường.
    • Nghiên cứu của Hà Thị Thu Nga chỉ ra sự cần thiết và rào cản thể chế hóa kế toán môi trường ở cấp độ vĩ mô, chưa xây dựng quy trình kế toán vi mô tại doanh nghiệp.
    • Hoàng Thị Bích Ngọc nghiên cứu bài học kinh nghiệm từ kế toán quản trị môi trường tại Nhật Bản nhưng chưa cụ thể hóa quy trình ghi nhận và báo cáo các yếu tố kế toán môi trường tại Việt Nam.

Các nghiên cứu ngoài nước

  • Về kế toán tài chính môi trường: A. Aziz Ansari nghiên cứu vận dụng Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) để ghi nhận các yếu tố môi trường trên báo cáo tài chính; UNCTAD (2002) ban hành hướng dẫn kế toán chi phí và nợ phải trả môi trường, trình bày thông tin trên báo cáo tài chính nhưng chưa đề cập toàn diện đến tài sản và thu nhập môi trường.
  • Về kế toán quản trị môi trường: IFAC (2005) ban hành tài liệu hướng dẫn kế toán quản trị môi trường (EMA) phân định thông tin vật lý (dòng nguyên vật liệu, năng lượng, nước, chất thải) và thông tin tiền tệ (chi phí, thu nhập, chi phí tiết kiệm); Ủy ban Liên Hợp Quốc về Phát triển bền vững (UNDCSD, 2002) hướng dẫn các phương pháp MFCA, ABC và kế toán dòng chi phí; Bộ Môi trường Nhật Bản (2005) ban hành hướng dẫn đo lường, phân loại chi phí, lợi ích môi trường và lập báo cáo môi trường; USEPA (1995) phân định kế toán môi trường thành 3 cấp độ: quốc gia, kế toán tài chính và kế toán quản trị doanh nghiệp.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Luận án giải quyết khoảng trống về tính thiếu đồng bộ và hệ thống trong tổ chức kế toán môi trường tại doanh nghiệp Việt Nam. Cụ thể, luận án hệ thống hóa toàn diện cả 4 yếu tố cấu thành (tài sản môi trường, nợ phải trả môi trường, chi phí môi trường, thu nhập môi trường), xây dựng mô hình tổ chức lồng ghép giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị môi trường, kết hợp các phương pháp kỹ thuật (MFCA và ABC) và kiểm chứng thực tế tại các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn cấp tỉnh (Quảng Ngãi).


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Khái niệm và bản chất kế toán môi trường: Kế toán môi trường trong doanh nghiệp là một bộ phận trong hệ thống kế toán doanh nghiệp nhằm thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin về hoạt động môi trường trong phạm vi doanh nghiệp dưới hình thức giá trị và hiện vật.
  • Phân định hai phân hệ kế toán:
    • Kế toán tài chính môi trường: Thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin tài chính về hoạt động môi trường (tài sản, nợ phải trả, chi phí, thu nhập môi trường) trên hệ thống báo cáo tài chính cho các đối tượng bên ngoài, tuân thủ các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán.
    • Kế toán quản trị môi trường: Thu nhận, xử lý và cung cấp cả thông tin hiện vật (vật liệu, năng lượng, nước, chất thải) và thông tin tiền tệ (chi phí môi trường, chi phí tiết kiệm) phục vụ nhà quản trị kiểm soát hoạt động và ra quyết định nội bộ.
  • Bốn yếu tố kế toán môi trường cốt lõi:
    1. Tài sản môi trường: Nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát, hình thành từ sự kiện quá khứ, dự kiến đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai và được sử dụng cho mục đích bảo vệ môi trường (cải thiện an toàn, giảm ô nhiễm, bảo tồn môi trường).
    2. Nợ phải trả môi trường: Nghĩa vụ hiện tại phát sinh từ các sự kiện môi trường trong quá khứ mà doanh nghiệp phải thanh toán bằng nguồn lực của mình (bồi thường thiệt hại, tiền phạt vi phạm, chi phí phục hồi môi trường, bao gồm cả dự phòng nợ phải trả môi trường).
    3. Chi phí môi trường: Các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ phát sinh từ hoạt động bảo vệ môi trường, xử lý chất thải hoặc các nghĩa vụ pháp lý môi trường.
    4. Thu nhập môi trường: Các lợi ích kinh tế thu được từ hoạt động môi trường (bán phế liệu, tái chế, bán chứng chỉ giảm phát thải CERs, trợ giá sản phẩm thân thiện môi trường).
  • Mô hình tổ chức lựa chọn: Mô hình kế toán lồng ghép (tích hợp kế toán tài chính môi trường và kế toán quản trị môi trường vào bộ máy kế toán hiện có của doanh nghiệp, thực hiện lồng ghép theo từng phần hành kế toán).
  • Kỹ thuật phân tích: Kết hợp phương pháp kế toán chi phí dựa trên cơ sở hoạt động (ABC) và phương pháp kế toán dòng luân chuyển vật liệu (MFCA).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  • Phương pháp luận: Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; kết hợp các phương pháp định tính, phân tích, tổng hợp, so sánh, diễn dịch và thống kê mô tả.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Thu thập tài liệu, văn bản pháp luật, báo cáo tài chính, chứng từ, sổ kế toán của các doanh nghiệp sản xuất tại Quảng Ngãi; số liệu chiến lược bảo vệ môi trường của tỉnh Quảng Ngãi; tài liệu quốc tế từ UNCTAD, IFAC, USEPA.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Khảo sát bằng bảng câu hỏi gồm 26 câu hỏi chia làm 3 phần (Phần I: Thông tin doanh nghiệp; Phần II: Thực trạng tổ chức công tác kế toán môi trường; Phần III: Đề xuất, kiến nghị) thông qua câu hỏi đóng, câu hỏi mở và câu hỏi kết hợp. Khảo sát thực hiện trực tiếp kết hợp phỏng vấn sâu hai nhóm đối tượng:
    • Nhóm bên ngoài: Ngân hàng tại Quảng Ngãi, Cục Thống kê, Chi cục Bảo vệ môi trường, Sở Kế hoạch và Đầu tư Quảng Ngãi.
    • Nhóm bên trong: Nhà quản trị doanh nghiệp, kế toán trưởng và kế toán tổng hợp tại các doanh nghiệp sản xuất.
  • Phương pháp xử lý dữ liệu: Dữ liệu khảo sát được kiểm tra, làm sạch, tổng hợp và phân tích thống kê mô tả (số tuyệt đối, số tương đối) bằng phần mềm Microsoft Excel 2007.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về tổ chức công tác kế toán môi trường trong các doanh nghiệp

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về môi trường, quản lý môi trường và kế toán môi trường trong doanh nghiệp:

  • Phân tích mối quan hệ giữa hoạt động kinh tế và môi trường theo chu trình Khai thác tài nguyên (R) - Sản xuất chế biến (P) - Tiêu dùng (C), qua đó chỉ rõ chất thải phát sinh ở mọi công đoạn.
  • Phân định chức năng quản lý nhà nước về môi trường (sử dụng công cụ pháp lý và công cụ kinh tế như thuế, phí, hạn ngạch ô nhiễm, ký quỹ) và quản lý môi trường trong nội bộ doanh nghiệp.
  • Làm rõ bản chất, đối tượng sử dụng thông tin kế toán môi trường (nhà quản lý, nhà đầu tư, chủ nợ, chính phủ, người lao động, kiểm toán viên).
  • Xác lập khái niệm và điều kiện ghi nhận 4 yếu tố: tài sản môi trường (vốn hóa chi phí môi trường đáp ứng tiêu chuẩn tài sản theo VAS 03), nợ phải trả môi trường, chi phí môi trường và thu nhập môi trường.
  • Luận giải hai mô hình tổ chức kế toán (mô hình riêng biệt và mô hình lồng ghép), khẳng định mô hình lồng ghép phù hợp với thực tiễn quản lý nhằm tiết kiệm nguồn lực và tận dụng bộ máy kế toán hiện hành.
  • Phân tích quy trình tổ chức thu thập thông tin ban đầu, hệ thống hóa trên tài khoản/sổ sách, lập báo cáo và vận dụng kết hợp các phương pháp quản trị hiện đại:
Phương pháp Bản chất kỹ thuật Ứng dụng trong kế toán môi trường
ABC (Activity-Based Costing) Tập hợp chi phí theo hoạt động và phân bổ cho đối tượng chịu chi phí dựa trên tác nhân phân bổ (cost drivers). Phân bổ chính xác chi phí xử lý chất thải, vận hành hệ thống môi trường vào từng dòng sản phẩm.
MFCA (Material Flow Cost Accounting) Theo dõi dòng vật liệu chuyển hóa thành sản phẩm dương (sản phẩm hoàn thành) và sản phẩm âm (chất thải, phế liệu). Xác định giá trị thiệt hại của vật liệu nằm trong chất thải, hỗ trợ cắt giảm lãng phí đầu vào.

Chương 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán môi trường tại các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

Chương 2 đánh giá thực tế tổ chức kế toán môi trường tại Quảng Ngãi thông qua khảo sát thực tế:

  • Đặc điểm địa bàn: Hoạt động sản xuất công nghiệp tập trung tại các khu kinh tế, khu công nghiệp (Khu kinh tế Dung Quất, KCN Quảng Phú, Tịnh Phong...) với lượng phát thải lớn về nước thải, khí thải và chất thải rắn.
  • Nhu cầu thông tin kế toán môi trường:
    • Đối tượng bên ngoài (ngân hàng, cơ quan thống kê, cơ quan môi trường): Cần thông tin về mức đầu tư tài sản môi trường, chi phí tuân thủ, nghĩa vụ thuế/phí môi trường và rủi ro nợ tiềm tàng môi trường để phục vụ cấp tín dụng và quản lý nhà nước.
    • Đối tượng bên trong (ban giám đốc, kế toán trưởng): Cần số liệu chi phí môi trường để kiểm soát định mức tiêu hao, tính đúng giá thành và lập kế hoạch giảm thiểu phát thải.
  • Thực trạng nhận diện, ghi nhận và báo cáo:
    • Về tài sản môi trường: Doanh nghiệp chưa theo dõi riêng tài sản phục vụ bảo vệ môi trường; nguyên giá hệ thống xử lý nước thải, lọc bụi thường bị gộp chung vào tài sản cố định nhà xưởng hoặc máy móc sản xuất chung.
    • Về nợ phải trả môi trường: Chỉ ghi nhận các khoản thuế, phí bảo vệ môi trường phát sinh phải nộp nhà nước; chưa trích lập dự phòng nợ phải trả môi trường đối với chi phí hoàn nguyên, di dời cơ sở hoặc xử lý ô nhiễm tồn đọng.
    • Về chi phí môi trường: Chi phí xử lý chất thải, quan trắc môi trường bị ẩn (hidden costs) trong chi phí sản xuất chung (TK 627) hoặc chi phí quản lý doanh nghiệp (TK 642), không phân tách riêng biệt, dẫn đến việc phân bổ chi phí môi trường cào bằng theo tiêu thức tiền lương hoặc giờ công máy.
    • Về thu nhập môi trường: Thu nhập từ bán phế liệu, bã thải được phản ánh đơn thuần vào thu nhập khác (TK 711) hoặc ghi giảm chi phí, chưa được theo dõi như một khoản thu từ hoạt động môi trường.
    • Về báo cáo: Doanh nghiệp không lập báo cáo tài chính môi trường hay báo cáo kế toán quản trị môi trường; thông tin môi trường không được thuyết minh trên Báo cáo tài chính năm.
  • Nguyên nhân của tồn tại: Chưa có chuẩn mực kế toán và hướng dẫn chế độ kế toán môi trường từ Bộ Tài chính; áp lực thực thi từ các cơ quan chức năng chưa đủ mạnh; trình độ chuyên môn của đội ngũ nhân viên kế toán về kỹ thuật môi trường còn hạn chế; nhận thức của chủ doanh nghiệp về vai trò của kế toán môi trường chưa đầy đủ.
  • Kinh nghiệm quốc tế: Tổng kết kinh nghiệm áp dụng hướng dẫn kế toán môi trường tại Nhật Bản, Đức, Hoa Kỳ và các chuẩn mực kế toán quốc tế liên quan (IAS 37 về dự phòng, IAS 16 về tài sản cố định) làm cơ sở cho bài học kinh nghiệm tại Việt Nam.

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán môi trường tại các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp xuất phát từ định hướng phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường của tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020:

  • Xác lập mô hình tổ chức: Áp dụng mô hình tổ chức lồng ghép công tác kế toán tài chính môi trường và kế toán quản trị môi trường vào phòng kế toán của doanh nghiệp sản xuất.
  • Hoàn thiện nhận diện và ghi nhận 4 yếu tố kế toán:
    • Tài sản môi trường: Phân loại chi tiết tài sản cố định môi trường hữu hình (hệ thống xử lý nước thải, lò đốt rác, thiết bị hấp thụ khí thải) và tài sản vô hình (giấy phép phát thải, nhãn sinh thái). Mở sổ chi tiết theo dõi riêng TSCĐ môi trường.
    • Nợ phải trả môi trường: Mở tài khoản chi tiết theo dõi nợ môi trường ngắn hạn và dài hạn; thực hiện trích lập dự phòng chi phí phục hồi môi trường, chi phí bồi thường thiệt hại môi trường.
    • Chi phí môi trường: Mở các tiểu khoản chi tiết trong hệ thống tài khoản chi phí (TK 621 - Chi phí NVL trực tiếp môi trường; TK 622 - Chi phí nhân công môi trường; TK 627 - Chi phí sản xuất chung môi trường; TK 641, 642 môi trường). Áp dụng phương pháp MFCA để lập bảng kê chi phí vật liệu trong chất thải và kết hợp phương pháp ABC để tập hợp chi phí vào các trung tâm chi phí môi trường (trung tâm xử lý nước thải, trung tâm khí thải, trung tâm chất thải rắn).
    • Thu nhập môi trường: Ghi nhận chi tiết thu nhập từ tái chế, phế liệu thu hồi, trợ cấp môi trường và chuyển nhượng quyền phát thải.
  • Hoàn thiện hệ thống chứng từ và báo cáo kế toán:
    • Thiết kế bổ sung các chứng từ kế toán ban đầu: Phiếu xuất vật tư xử lý môi trường, Bảng kê xác định dòng vật liệu và chất thải, Phiếu kiểm định môi trường.
    • Thiết kế hệ thống báo cáo kế toán quản trị: Báo cáo chi phí môi trường theo trung tâm chi phí; Báo cáo cân bằng vật liệu (MFCA); Báo cáo đánh giá hiệu quả đầu tư môi trường.
    • Trình bày bổ sung chỉ tiêu tài sản, nợ phải trả, chi phí môi trường trên Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và Bản thuyết minh báo cáo tài chính.
  • Kiến nghị thực hiện:
    • Đối với doanh nghiệp: Kiện toàn bộ máy kế toán theo mô hình lồng ghép; đào tạo nghiệp vụ kế toán môi trường cho nhân viên; phối hợp giữa bộ phận kỹ thuật môi trường và phòng kế toán trong việc đo lường dòng vật chất.
    • Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Bộ TN&MT, UBND tỉnh Quảng Ngãi): Ban hành thông tư hướng dẫn kế toán môi trường; bổ sung quy định bắt buộc công bố thông tin môi trường trên báo cáo tài chính đối với các ngành có nguy cơ ô nhiễm cao; hoàn thiện công cụ thuế, phí và thanh tra môi trường.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về tổ chức công tác kế toán môi trường trong doanh nghiệp sản xuất, bao gồm xác định ranh giới và mối quan hệ tương hỗ giữa kế toán tài chính môi trường và kế toán quản trị môi trường.
  • Xây dựng định nghĩa, tiêu chuẩn nhận diện và nguyên tắc đo lường đối với 4 yếu tố cấu thành kế toán môi trường: Tài sản môi trường, Nợ phải trả môi trường, Chi phí môi trường và Thu nhập môi trường.
  • Luận giải cơ sở khoa học của việc tích hợp phương pháp kế toán dòng luân chuyển vật liệu (MFCA) với phương pháp xác định chi phí dựa trên cơ sở hoạt động (ABC) trong việc nhận diện chi phí ẩn và phân bổ chi phí môi trường trong doanh nghiệp sản xuất.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bức tranh thực trạng về tổ chức kế toán môi trường tại các doanh nghiệp sản xuất quy mô vừa và lớn trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, chỉ rõ tình trạng bỏ sót thông tin tài sản môi trường và che giấu chi phí môi trường trong chi phí sản xuất chung.
  • Thiết kế hoàn chỉnh mô hình tổ chức kế toán môi trường lồng ghép có tính khả thi cao đối với các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam mà không làm xáo trộn cấu trúc bộ máy kế toán sẵn có.
  • Xây dựng hệ thống giải pháp kỹ thuật kế toán chi tiết: Danh mục chứng từ ban đầu, sơ đồ tài khoản chi tiết cấp 2 và cấp 3, quy trình luân chuyển chứng từ và mẫu biểu báo cáo tài chính - báo cáo quản trị môi trường.
  • Đề xuất các căn cứ thực tiễn giúp Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng lộ trình chuẩn hóa chế độ kế toán môi trường tại Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Phạm vi không gian: Khảo sát thực tế chỉ giới hạn trong phạm vi địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, chưa mở rộng ra các tỉnh, thành phố khác thuộc vùng kinh tế trọng điểm miền Trung hoặc cả nước.
  • Dung lượng mẫu khảo sát: Do tiêu chí sàng lọc chặt chẽ (thuộc 10 nhóm ngành có nguy cơ ô nhiễm theo Thông tư 04/2012/TT-BTNMT, vốn trên 20 tỷ đồng, lao động trên 200 người, tỷ lệ TSCĐ môi trường từ 5% trở lên), số lượng doanh nghiệp được chọn phân tích sâu còn hạn chế (8 doanh nghiệp thuộc 4 nhóm ngành).
  • Phạm vi dữ liệu: Dữ liệu khảo sát sơ cấp và thứ cấp tập trung trong giai đoạn 2012 - 2014, phản ánh bối cảnh thực thi pháp luật môi trường và chế độ kế toán tại thời điểm nghiên cứu.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu tổ chức kế toán môi trường sang các ngành dịch vụ, du lịch, nông nghiệp hoặc các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
  • Nghiên cứu ứng dụng các chuẩn mực báo cáo bền vững quốc tế (như GRI - Global Reporting Initiative) kết hợp với Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) vào kế toán môi trường tại Việt Nam.
  • Phát triển các mô hình định lượng đánh giá tác động của công bố thông tin kế toán môi trường đến giá trị doanh nghiệp và chi phí sử dụng vốn.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng cụ thể cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Kế toán - Kiểm toán - Kinh tế môi trường: Tham khảo khung lý thuyết, phương pháp luận và kỹ thuật kết hợp giữa MFCA và ABC trong hạch toán chi phí môi trường.
  • Giảng viên các trường đại học khối kinh tế: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy và phát triển giáo trình chuyên đề Kế toán môi trường, Kế toán quản trị chuyên sâu.
  • Kế toán trưởng và ban lãnh đạo các doanh nghiệp sản xuất: Vận dụng trực tiếp hệ thống tài khoản chi tiết, bảng kê tính toán dòng vật liệu trong chất thải và mẫu biểu báo cáo quản trị môi trường để kiểm soát chi phí sản xuất, tối ưu hóa nguyên vật liệu đầu vào và giảm thiểu rủi ro pháp lý môi trường.
  • Các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục Thống kê): Tham khảo làm căn cứ thực tiễn để xây dựng Thông tư hướng dẫn kế toán môi trường, sửa đổi bổ sung chuẩn mực kế toán Việt Nam và thiết lập chỉ tiêu thống kê môi trường cấp quốc gia và địa phương.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa tài sản môi trường như thế nào và điều kiện ghi nhận là gì?

Tài sản môi trường là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát và có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai, được sử dụng cho mục đích bảo vệ môi trường. Chi phí môi trường được vốn hóa thành tài sản khi thỏa mãn các điều kiện: cải thiện sự an toàn môi trường, gia tăng hiệu quả của các tài sản khác thuộc sở hữu doanh nghiệp, hoặc giảm thiểu/ngăn ngừa ô nhiễm môi trường phát sinh từ các hoạt động trong tương lai.

2. Tiêu chuẩn lựa chọn mẫu doanh nghiệp khảo sát thực tế trong luận án gồm những tiêu chí nào?

Tác giả áp dụng 4 tiêu chuẩn sàng lọc:

  1. Thuộc nhóm cơ sở sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường theo quy định tại Thông tư số 04/2012/TT-BTNMT (10 nhóm ngành nghề).
  2. Doanh nghiệp sản xuất trong nước đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
  3. Doanh nghiệp quy mô vừa và lớn theo chuẩn Việt Nam (tổng nguồn vốn trên 20 tỷ đồng, số lượng lao động trên 200 người).
  4. Tỷ lệ nguyên giá tài sản cố định sử dụng cho hoạt động môi trường chiếm từ 5% trở lên trên tổng nguyên giá tài sản cố định của doanh nghiệp.

3. Tại sao luận án lựa chọn mô hình tổ chức kế toán môi trường lồng ghép thay vì mô hình riêng biệt?

Mô hình lồng ghép thực hiện tích hợp công việc kế toán tài chính môi trường và kế toán quản trị môi trường vào các phần hành của bộ máy kế toán hiện có. Mô hình này giúp doanh nghiệp tránh được sự trùng lặp trong việc thu thập chứng từ ban đầu, không làm phát sinh chi phí tuyển dụng thêm bộ máy nhân sự riêng biệt, đồng thời phát huy tối đa năng lực và phương tiện kỹ thuật tính toán sẵn có của phòng kế toán.

4. Phương pháp MFCA và phương pháp ABC được kết hợp như thế nào trong xử lý chi phí môi trường?

Luận án kết hợp MFCA để theo dõi định lượng dòng vật liệu thực tế nhằm xác định giá trị nguyên vật liệu bị thất thoát nằm trong chất thải (sản phẩm âm), sau đó sử dụng phương pháp ABC để tập hợp toàn bộ chi phí xử lý môi trường phát sinh theo từng trung tâm hoạt động và phân bổ chính xác cho các đối tượng chịu chi phí dựa trên các tác nhân phân bổ hoạt động thực tế thay vì phân bổ cào bằng.

5. Những nguyên nhân chính dẫn đến hạn chế trong tổ chức kế toán môi trường tại các doanh nghiệp sản xuất Quảng Ngãi là gì?

Các nguyên nhân chính bao gồm: thiếu khung pháp lý và chuẩn mực hướng dẫn kế toán môi trường cụ thể từ Bộ Tài chính; áp lực thanh tra và yêu cầu công khai thông tin môi trường từ cơ quan quản lý chưa đủ nghiêm; đội ngũ kế toán doanh nghiệp thiếu kiến thức chuyên sâu về định lượng kỹ thuật môi trường; và nhận thức của ban lãnh đạo doanh nghiệp về lợi ích kinh tế lâu dài của kế toán môi trường còn hạn chế.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Hoài Nam đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về tổ chức công tác kế toán môi trường trong doanh nghiệp sản xuất, bao quát toàn diện 4 yếu tố tài sản, nợ phải trả, chi phí và thu nhập môi trường trên cả phương diện kế toán tài chính và kế toán quản trị. Thông qua kết quả điều tra thực tế tại các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, công trình đã chỉ rõ những bất cập trong việc nhận diện và ghi nhận chi phí môi trường, từ đó đề xuất mô hình tổ chức kế toán lồng ghép kết hợp hai kỹ thuật MFCA và ABC. Các giải pháp và kiến nghị được xây dựng trong luận án mang tính thực tiễn cao, đóng góp cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện chế độ kế toán doanh nghiệp và hỗ trợ công tác quản lý bảo vệ môi trường hướng tới phát triển bền vững.