Chương 1: Cơ sở lý luận về thủ tục phân tích áp dụng trong kiểm toán báo cáo tài chính. Chương 2: Thực trạng vận dụng thủ tục phân tích trong kiểm toán báo cáo tài chính áp dụng tại Công ty AFA. Chương 3: Hoàn thiện thủ tục phân tích trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty AFA 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC PHÂN TÍCH ÁP DỤNG TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1.
K á n ệm về ểm toán báo áo tà ín Kiểm toán là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng về những thông tin được kiểm tra nhằm xác định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa những thông tin đó với các chuẩn mực đã được thiết lập. Quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi các kiểm toán viên đủ năng lực và độc lập. Kiểm toán báo cáo tài chính là hoạt động của các kiểm toán viên độc lập và có năng lực tiến hành thu thập và đánh giá các bằng chứng kiểm toán về các báo cáo tài chính được kiểm toán nhằm kiểm tra và báo cáo về mức độ trung thực, hợp lý của báo cáo tài chính được kiểm toán với các tiêu chuẩn, chuẩn mực đã được thiết lập. Do báo cáo tài chính bắt buộc phải được lập theo các chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán hiện hành nên các chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán được sử dụng làm thước đo trong kiểm toán báo cáo tài chính.
Mục tiêu tổng quát của kiểm toán báo cáo tài chính là giúp cho kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng báo cáo tài chính có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành, có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không. Ngoài ra mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính còn giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị. Quy trìn ểm toán báo áo tà ín Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính được thực hiện qua ba giai đoạn là: giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, giai đoạn thực hiện kiểm toán và giai đoạn kết thúc kiểm toán. Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán Thu thập thông tin cơ sở như ngành nghề kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh, hoạt động kinh doanh, các bên liên quan.
Đồng thời, KTV còn phải đánh giá việc sử dụng chuyên gia bên ngoài trong những tình huống cần thiết. Thu thập thông tin về các nghĩa vụ pháp lý của khách hàng cần phải được kiểm tra ngay sau khi thu thập thông tin cơ bản. Những thông tin này được thu thập thông qua việc tìm hiểu điều lệ công ty, các quy chế của công ty khách hàng, các biên bản họp Ban Giám đốc và Hội đồng quản trị, các hợp đồng của công ty. Sau khi đạt được các thông tin trên cần thực hiện các thủ tục phân tích sơ bộ nhằm để hiểu biết về ngành nghề kinh doanh và công việc kinh doanh của khách hàng, đánh giá khả năng tiếp tục hoạt động kinh doanh, chỉ ra những sai phạm có thể và để giảm công việc kiểm tra chi tiết.
Thực hiện các thủ tục phân tích sơ bộ về tổng thể BCTC, xác định mức trọng yếu và đánh giá rủi ro. Đánh giá và khoanh vùng rủi ro trọng yếu đối với từng phần hành, từng khoản mục để chuẩn bị cho chương trình kiểm toán. Trên cơ sở kế hoạch tổng thể, KTV xây dựng chương trình kiểm toán cụ thể cho từng phần hành kiểm toán. Trong quá trình thực hiện kiểm toán, các KTV sẽ phải tuân theo quy trình kiểm toán và chỉ được thay đổi trong các trường hợp đặc biệt.
Các chuẩn mực kiểm toán liên quan đến Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán trong Kiểm toán BCTC: - Hợp đồng kiểm toán (Chuẩn mực 210, điểm 42-LKTĐL) 8 - Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu thong qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị (Chuẩn mực 315) - Mức trọng yếu trong lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán (Chuẩn mực 320) - Biện pháp xử lý của KTV đối với rủi ro đánh giá (Chuẩn mực 330) - Lập kế hoạch kiểm toán (Chuẩn mực 300) - Các yếu tố cần xem xét khi kiểm toán đơn vị có sử dụng dịch vụ bên ngoài (Chuẩn mực 402) Tóm lại, giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán bao gồm sáu phần chính là chuẩn bị kế hoạch, thu thập thông tin cơ bản về khách hàng, thu thập thông tin về các nghĩa vụ pháp lý của khách hàng, đánh giá tính trọng yếu và rủi ro, tìm hiểu cơ cấu kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát và việc khai triển kế hoạch kiểm toán toàn bộ và chương trình kiểm toán. Mỗi phần trong năm phần đầu nhằm mục đích giúp KTV khai triển phần cuối cùng, một kế hoạch kiểm toán toàn bộ, một chương trình kiểm toán hiệu quả và hiệu lực. Giai đoạn thực hiện kiểm toán Giai đoạn thực hiện kiểm toán bao gồm các bước sau: - Kiểm tra, đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ; - Kiểm tra, đánh giá hệ thống kế toán; - Kiểm tra chi tiết từng chỉ tiêu trình bày trên Báo cáo tài chính; - Tổng hợp và đánh giá kết quả kiểm tra chi tiết cho từng khoản mục trình bày trên Báo cáo tài chính. Trong quá trình kiểm toán, KTV sẽ thực hiện thông qua hai phương pháp là thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm cơ bản.
Mục đích của thử nghiệm kiểm soát để đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng, phát hiện những điểm cần khắc phục và đề xuất với khách hàng những giải pháp hữu hiệu nhất để đảm bảo an toàn, hiệu quả cho khách 9 hàng trong quá trình hoạt động kinh doanh. Đối với những doanh nghiệp có quy mô nhỏ, KTV thường bỏ qua thủ tục kiểm tra hệ thống kiểm soát nội bộ và tiến hành thử nghiệm cơ bản. Đối với những doanh nghiệp có quy mô lớn, KTV áp dụng kỹ thuật chọn mẫu để đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ. Vì các kết quả của các khảo sát về nghiệp vụ là yếu tố quyết định chủ yếu phạm vi các cuộc khảo sát chi tiết số dư, chúng thường được thực hiện trước ngày lập bảng cân đối tài sản từ hai hoặc ba tháng.
Điều này giúp cho kiểm toán viên lập kế hoạch cho những điều ngoài ý muốn, xem xét lại chương trình kiểm toán cho những kết quả ngoài dự kiến và hoàn tất cuộc kiểm toán càng sớm sau ngày lập bảng cân đối tài sản càng tốt. Mục đích của thử nghiệm cơ bản để thu thập đầy đủ các bằng chứng về các số liệu và thuyết minh trên báo cáo tài chính để làm cơ sở đưa ra các ý kiến nhận xét về tình hình tài chính cũng như tình hình hoạt động của khách hàng nhằm nâng cao hiệu quả tối đa của kiểm toán. Thử nghiệm cơ bản bao gồm các thủ tục phân tích và các cuộc khảo sát chi tiết số dư. Thủ tục phân tích nhằm đánh giá tính hợp lý chung của các nghiệp vụ và số dư.
Các cuộc khảo sát chi tiết về số dư nhằm mục đích khảo sát đối với những sai sót tiền tệ trong các số dư trên báo cáo tài chính. KTV thường kiểm tra chi tiết từng khoản mục trên báo cáo tài chính để đảm bảo không có sai sót trọng yếu xảy ra. KTV áp dụng kỹ thuật chọn mẫu thống kê hoặc phi thống kê để đánh giá từng khoản mục trên BCTC có được trình bày hợp lý hay không. Các chuẩn mực kiểm toán liên quan: - Thực hiện kiểm toán các khoản mục chủ yếu của BCTC - Đánh giá các sai sót phát hiện trong quá trình kiểm toán (Chuẩn mực 450) c.
Giai đoạn kết thúc kiểm toán 10 Sau khi các công việc được thực hiện ở hai giai đoạn trên, KTV phải tổng hợp kết quả và phát hành báo cáo kiểm toán. Những nội dung chủ yếu ở giai đoạn này gồm: - Soát xét những khoản nợ tiềm tàng: là việc xem xét các khoản nợ ngoài ý muốn có thể phát sinh làm ảnh hưởng đến báo cáo tài chính như các khoản tiền có thể bị phạt bị bồi thường do bị kiện tụng… - Soát xét các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc niên độ BCTC: các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc niên độ BCTC là những sự kiện có ảnh hưởng đến báo cáo tài chính phát sinh sau khi kết thúc năm tài chính, khóa sổ lập báo cáo tài chính nhưng trước khi ký báo các kiểm toán và cả những sự kiện phát sinh sau khi ký báo cáo kiểm toán. - Đánh giá các kết quả: KTV phải đánh giá các kết quả của cuộc kiểm toán và quyết định xem bằng chứng đã thu thập đầy đủ hay chưa. Các tư liệu được xem xét lại bởi những người có nhiều kinh nghiệm hơn người thực hiện ban đầu để phát hiện những sai sót và đánh giá những lời bình và kết luận của người kia.
Quá trình xem xét lại sự đúng đắn của các tư liệu là cách chủ yếu để đảm bảo việc thực hiện có chất lượng và sự phán xét độc lập của toàn bộ nhóm kiểm toán. Công bố báo cáo kiểm toán: căn cứ vào bằng chứng kiểm toán thu thập được và các phát hiện trong quá trình kiểm toán, KTV tổng hợp, đánh giá kết quả và xác định loại báo cáo kiểm toán phù hợp, lập và phát hành báo cáo kiểm toán. Các chuẩn mực kiểm toán liên quan: - Báo cáo kiểm toán về BCTC (Chuẩn mực 700, 705, 706) - Thông tin so sánh – Dữ liệu tương ứng và BCTC so sánh (Chuẩn mực 710) 11 - Các thông tin khác trong tài liệu có BCTC đã kiểm toán (Chuẩn mực 720) 1. THỦ TỤC PHÂN TÍCH ÁP DỤNG TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1.
Địn ng ĩ về t ủ tụ p ân tí Định nghĩa về thủ tục phân tích trong kiểm toán báo cáo tài chính có thể được tìm thấy trong nhiều chuẩn mực, văn bản hướng dẫn của các cơ quan chức năng, tổ chức nghề nghiệp ở nhiều quốc gia khác nhau. Ở Việt Nam, theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam (VSA) 520 hiện hành, “Quy trình phân tích: Là việc phân tích các số liệu, thông tin, các tỷ suất quan trọng, qua đó tìm ra những xu hướng, biến động và tìm ra những mối quan hệ có mâu thuẫn với các thông tin liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị đã dự kiến”.