Chương 1: THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM 1. Các khái niệm về thể chế Theo Douglass North (Nobel kinh tế 1993), thể chế là những ràng buộc mà con người tạo ra để định hướng cho những tương tác giữa người với người, là những “luật chơi trong một xã hội”. Nếu chúng làm tốt thì sẽ khích lệ con người hành động theo hướng tạo ra những kết quả tốt đẹp, và ngược lại. Những “luật chơi” này bao gồm 02 yếu tố: - Yếu tố thứ nhất là, những thể chế chính thức (bao gồm luật pháp, quyền sở hữu và cách thức tổ chức quyền lực nhà nước); - Yếu tố thứ hai là, những thể chế phi chính thức (bao gồm những tục lệ, truyền thống và chuẩn mực ứng xử trong xã hội).
Yếu tố này ảnh hưởng tới sự thành công hoặc thất bại của những thể chế chính thức. Theo nghiên cứu của Simon Anholt, Dung (2008), thể chế bao gồm 03 yếu tố: luật pháp, bộ máy nhà nước và phương thức điều hành đất nước. Giá trị phổ biến về thể chế của những nước phát triển thuộc OECD1 là dân chủ, tam quyền phân lập, kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế. Những giá trị này có tính bền vững.
Theo Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 2009 của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), thể chế có thể được hiểu theo 02 cách: - Cách hiểu thứ nhất là, cải tạo thành khung khổ trật tự cho các quan hệ của con người, định vị cơ chế thực thi và giới hạn của các quan hệ giữa các bên tham gia tương tác; - Cách hiểu thứ hai là, ý chí chung của cộng đồng xã hội trong việc xác lập trật tự, những quy tắc, những ràng buộc và các chuẩn mực, giá trị chung được mọi người chia sẻ. 1 OECD là tên viết tắt của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế. Những nước phát triển thuộc OECD được xem như là những nước có thương hiệu quốc gia tốt nhất. 5 Dựa trên các khái niệm trên, ta có thể hiểu thể chế là một hệ thống các nguyên tắc trật tự, có thể điều chỉnh các mối quan hệ xã hội nói riêng và sự vận hành xã hội nói chung nhằm hướng tới giá trị bền vững tốt đẹp.
Thể chế bao gồm nhiều yếu tố như hệ thống pháp luật, chuẩn mực xã hội và các chủ thể quản lý liên quan như Nhà nước và các tổ chức xã hội. Sự cần thiết khách quan hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN Đại hội XIII của Đảng nhận định, thực tiễn phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta trong thời gian qua đã đạt được nhiều thành tựu vượt bậc trong quá trình từng bước xây dựng thể chế, song “thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn nhiều vướng mắc, bất cập”. Biểu hiện của những bất cập đó được Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ trên các khía cạnh cụ thể như: - Thứ nhất là, năng lực xây dựng thể chế còn hạn chế, chất lượng luật pháp và chính sách trên một số lĩnh vực còn thấp; - Thứ hai là, nhiều doanh nghiệp nhà nước chậm thực hiện cơ cấu lại và đổi mới cơ chế quản trị, hiệu quả sản xuất kinh doanh còn thấp, tình trạng nợ - thua lỗ - lãng phí còn lớn; - Thứ ba là, việc thực hiện cơ chế giá thị trường đối với một số hàng hóa & dịch vụ công còn lúng túng, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển chưa đồng bộ; - Cuối cùng là, hội nhập kinh tế quốc tế có một số mặt đạt hiệu quả chưa cao, việc bảo vệ thị trường trong nước và phòng ngừa, xử lý tranh chấp thương mại quốc tế còn nhiều bất cập. Những hạn chế, bất cập trên cho thấy, việc tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta là tất yếu trong bối cảnh hiện nay.
Ngoài ra, Đại hội XIII của Đảng đã đặt ra mục tiêu phát triển tổng thể của Việt Nam tới năm 2030 và tầm nhìn tới năm 2045. Các văn kiện đã đề ra cụ thể như sau: “phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng XHCN”; đến năm 2025 trở thành “nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp” và đến năm 2030 là “nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao”. 6 Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, trong giai đoạn 1960 đến 2008, có hàng trăm quốc gia có khát vọng như vậy nhưng đại đa số đều “mắc kẹt”, không vươn lên thành công, bị rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” và chỉ có 13 quốc gia và vùng lãnh thổ được xem là thành công.2 Việt Nam cũng phải tìm cách để không bị rơi vào “bẫy thu nhập trung bình”. Điều đó chỉ có thể thực hiện được nếu Việt Nam xây dựng hoàn thiện được thể chế phát triển chất lượng cao, cùng một bộ máy nhà nước pháp quyền XHCN và hệ thống chính trị thực sự hoạt động có hiệu lực, hiệu quả.
Nội dung của hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN Theo PGS. TS Ngô Tuấn Nghĩa (2021) tổng hợp, Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ những nội dung cốt lõi của việc hoàn thiện đồng bộ, toàn diện thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN như sau: Một là, thống nhất và nâng cao nhận thức về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. - Về nội hàm kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam: Kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của nền kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng XHCN vì mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước.
- Về sở hữu và các thành phần kinh tế: Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế. Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. 2 Tại khu vực Đông Á và Đông Nam Á, người ta thường nhắc tới Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore. 7 + Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước: Kinh tế nhà nước là công cụ, lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước ổn định kinh tế vĩ mô, định hướng, điều tiết, dẫn dắt thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trường.
Các nguồn lực kinh tế của Nhà nước được sử dụng phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển đất nước và cơ bản được phân bổ theo cơ chế thị trường. Doanh nghiệp nhà nước tập trung vào những lĩnh vực then chốt, địa bàn quan trọng, quốc phòng, an ninh; hoạt động theo cơ chế thị trường, quản trị hiện đại; lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chí đánh giá chủ yếu, cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. + Vai trò của kinh tế tập thể: Kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác, các hợp tác xã, tổ hợp tác có phạm vi hoạt động rộng lớn, với vai trò cung cấp dịch vụ cho các thành viên, liên kết, phối hợp sản xuất kinh doanh, bảo vệ lợi ích và tạo điều kiện để các thành viên nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất kinh doanh, phát triển bền vững. Tăng cường liên kết giữa các hợp tác xã, hình thành các hiệp hội, liên hiệp các hợp tác xã.
+ Vai trò của kinh tế tư nhân: Kinh tế tư nhân được khuyến khích ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, được hỗ trợ phát triển thành các công ty, tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có sức cạnh tranh cao. Khuyến khích doanh nghiệp tư nhân hợp tác, liên kết với doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, kinh tế hộ; phát triển các công ty cổ phần có sự tham gia rộng rãi của các chủ thể xã hội, nhất là người lao động. + Vai trò của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân, có vai trò lớn trong huy động nguồn vốn đầu tư, công nghệ, phương thức quản lý hiện đại, mở rộng thị trường xuất khẩu. - Về mối quan hệ Nhà nước - thị trường - xã hội: Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, giữa Nhà nước, thị trường và xã hội có mối quan hệ chặt chẽ: + Thứ nhất, Nhà nước thực hiện các chức năng: Xây dựng và hoàn thiện thể chế, bảo vệ quyền tài sản, quyền kinh doanh, giữ ổn định kinh tế vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế; tạo môi trường thuận lợi, công khai, minh bạch cho các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và thị trường hoạt động; điều tiết, định hướng, thúc đẩy kinh tế phát triển, gắn kết phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, 8 đời sống của nhân dân, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng luật pháp, cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, các tiêu chuẩn, định mức và lực lượng kinh tế nhà nước phù hợp với yêu cầu và quy luật của nền kinh tế thị trường. + Thứ hai, thị trường đóng vai trò quyết định trong xác định giá cả hàng hóa, dịch vụ; tạo động lực huy động, phân bổ hiệu quả các nguồn lực; điều tiết sản xuất và lưu thông; điều tiết hoạt động của doanh nghiệp, loại bỏ những doanh nghiệp yếu kém.