Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về thể chế kinh tế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. Cơ sở lý luận và thực tiễn về thể chế kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Thực trạng thể chế kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Định hướng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ THỂ CHẾ KINH TẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án 1.1 Một số hướng tiếp cận nghiên cứu vấn đề thể chế kinh tế Vấn đề thể chế kinh tế được nhiều nhà kinh tế trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Trong đó có nhiều hướng tiếp cận nghiên cứu được đưa ra.
• Hướng tiếp cận dựa trên sự tiến hóa của thể chế kinh tế Hướng tiếp cận này được các nhà kinh tế học thể chế mới đưa ra trên cơ sở xem xét quá trình ra đời, vận động và phát triển của các thể chế. “Vấn đề trung tâm của bộ môn lịch sử kinh tế và phát triển kinh tế là phải xem xét sự tiến hóa của các thể chế chính trị và kinh tế mà tạo nên một môi trường kinh tế khiến cho hiệu quả sản xuất ngày càng gia tăng., 1991) Những nghiên cứu của North đã cho thấy quá trình ra đời của thể chế kinh tế bắt nguồn từ quá trình chuyên môn hóa sản xuất và phân công lao động xã hội làm xuất hiện các thể chế kinh tế phi chính thức. Khi quá trình trao đổi ngày càng mở rộng, thị trường ngày càng phát triển đòi hỏi phải có các thể chế kinh tế chính thức nhằm đảm bảo quyền sở hữu cũng như việc thực thi hợp đồng trên cơ sở đó góp phần giảm chi phí giao dịch trong kinh tế. (Williamson, 2000) đã khái quát hóa sự tiến hóa thể chế kinh tế thành bốn tầng: Ở tầng thứ nhất các thế chế chủ yếu dưới hình thức phi chính thức và có tính “trơ ì” do tính thiết thực hoặc giá trị biểu tượng và thường vận hành trong xã hội khép kín để tự bảo vệ khỏi những giá trị ngoại lai.
Tầng thứ hai được gọi là môi trường thể chế, ở đây các quy tắc chính thức (hiến pháp, luật pháp, quyền tài sản) được áp dụng tạo điều kiện cho kinh tế hóa bậc 01: “tạo dựng những luật chơi chính thức tốt”. Tầng thứ ba là nơi các thể thế quản trị những quan hệ hợp đồng là trung tâm phân tích. Hệ thống những luật lệ để xác định luật hợp đồng và bắt buộc tuân thủ hợp đồng. Tầng thứ tư là nơi những phân tích tân cổ điển đang được thực hiện.
Những cơ chế nhằm tối ưu hóa thường được thông qua cách thức phân tích cận biên. Trong tầng này, sự điều chỉnh giá cả và sản lượng được diễn ra liên tục. 16 Trên cơ sở phân tích cách tầng nấc tiến hóa của thể chế, Williamson đã nhấn mạnh đối tượng nghiên cứu của kinh tế học thể chế chủ yếu là tầng 02 và tầng 03 tức là môi trường thể chế và thể chế quản trị. • Hướng tiếp cận dựa trên tính chất của thể chế kinh tế Daron Acemoglu và James A Robinson đã tiếp nối những nghiên cứu của trường phái kinh tế học thể chế, coi thể chế đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển của một quốc gia trong thời đại ngày nay.
Các ông cho rằng thể chế là “một tập hợp các quy tắc kinh tế và chính trị được tạo ra và thực thi bởi cả nhà nước và dân chúng” (Acemoglu & Robinson, 2013, 68), Dựa trên sự phân chia thể chế thành hai loại thể chế dung hợp (inclusive institution) và chiếm đoạt (extractive institution), Acemoglu & Robinson đã lý giải sự thành công hay thất bại của các quốc gia. Thể chế kinh tế dung hợp là các thể chế kinh tế “cho phép và khuyến khích sự tham gia của đại đa số dân chúng vào các hoạt động kinh tế, sử dụng tốt nhất tài năng và trình độ của họ và giúp các cá nhân thực hiện những lựa chọn họ muốn” (Acemoglu & Robinson, 2013), Trong thể chế kinh tế dung hợp, thừa nhận và bảo vệ quyền sở hữu tư nhân, đề cao quyền tự do cá nhân, có hệ thống pháp luật bình đẳng và được thực thi nghiêm minh, nhà nước cung cấp các dịch vụ công đầy đủ và tạo ra một sân chơi bình đẳng, khuyến khích mọi người trao đổi, ký kết hợp đồng, thành lập doanh nghiệp và tự do kinh doanh. Thể chế kinh tế chiếm đoạt là loại hình thể chế thiếu cơ chế khuyến khích tham gia tích cực của thành viên trong xã hội vào hoạt động kinh tế. Thông qua những cơ chế ép buộc, cưỡng chế, trong đó thị trường không được phát triển đầy đủ, các quy luật thị trường không được tôn trọng và bị bóp méo, sở hữu tư nhân của người dân không được bảo đảm, hạn chế sự tự do sáng tạo, tự do làm ăn, không có động cơ đầu tư và động cơ tăng năng suất lao động dẫn đến thiếu động lực cho quá trình phát triển kinh tế.
Gắn liền với thể chế kinh tế là thể chế chính trị, thể chế chính trị cũng được chia thành hai loại cơ bản là thể chế chính trị dung hợp và thể chế chính trị chiếm đoạt 17 Các thể chế chính trị dung hợp: Các thể chế chính trị mà quyền lực được phân phối rộng rãi, cho phép mở rộng sự tham gia của cộng đồng xã hội, đồng thời đặt ra các giới hạn và kiểm tra đối với bộ máy quyền lực bởi các quy định của pháp luật. Bên cạnh đó nhà nước cần có sự tập trung quyền lực chính trị được đặt vào một liên minh rộng rãi hay nhiều nhóm. Các thể chế chính trị khai thác (chiếm đoạt) - trong giới hạn "chủ nghĩa chuyên chế" là các thể chế chính trị tập trung quyền lực vào tay một vài người, thiếu đi sự ràng buộc, kiểm tra, công bằng bởi các quy định của pháp luật. “Chúng ta sẽ gọi những thể chế chính trị có tính tập trung và đa nguyên là những thể chế chính trị dung hợp.
Khi một trong hai điều kiện này không được đáp ứng, chúng ta sẽ gọi đó là các thể chế chính trị chiếm đoạt” (Acemoglu & Robinson, 2013, 116) Ở các quốc gia mà nhà nước lựa chọn xây dựng thể chế (chính trị và kinh tế) theo hướng dung hợp sẽ có những điều kiện phát triển thuận lợi hơn các quốc gia có thể chế chiếm đoạt. “Các thể chế chính trị và kinh tế, suy cho cùng là sự chọn lựa của xã hội, có thể có tính dung hợp và khuyến khích tăng trưởng kinh tế. Hoặc các thể chế đó có thể có tính chiếm đoạt và trở thành chướng ngại đối với tăng trưởng kinh tế.” (Acemoglu & Robinson 2013, 119), • Hướng tiếp cận trên cơ sở nền tảng thể chế kinh tế hiện đại Ngân hàng thế giới trong báo cáo “Các thể chế hiện đại” (Worlbank, 2009) đưa ra quan điểm về thể chế hiện đại đó là “những nguyên tắc xác định mối quan hệ giữa xã hội và các thành viên trong xã hội và thể chế ngày càng được nhìn nhận như là yếu tố chính quyết định sự phát triển lâu dài của một quốc gia” (Worlbank 2009, 1), Nghiên cứu đã chỉ ra đòi hỏi khách quan của việc chuyển đổi sang xây dựng thể chế hiện đại trong đó tập trung vào việc phân cấp trao quyền và trách nhiệm giải trình, đây được coi là hai khía cạnh cơ bản của một thể chế hiện đại và cũng được coi là những khía cạnh đổi mới quan trọng nhất của Việt Nam trong từ khi đổi mới. Nhà nước cần đóng vai trò chủ yếu trong hoạt động xây dựng và thực thi thể chế phân cấp trao quyền cũng như trách nhiệm giải trình.
Trong đó, cần tăng cường phân cấp trao quyền cho các địa phương nhưng đồng thời phải đảm bảo tính thống nhất của các vấn 18 đề chung hệ thống (kế hoạch chiến lược, pháp luật.) Đồng thời, Nhà nước cũng phải xây dựng được cơ chế để đảm bảo trách nhiệm giải trình theo cả hai hướng: Hướng lên trên tập trung vào việc tuân thủ các quy tắc, các chỉ thị và chỉ đạo đến từ bộ máy nhà nước; Hướng xuống dưới tập trung vào các kết quả mà một cá nhân hay một cơ quan có nhiệm vụ thực hiện. Từ việc chỉ ra những nút thắt thể chế dẫn tới sự kém hiệu quả của hoạt động kinh tế nêu trên, nghiên cứu đã đưa ra những hàm ý chính sách đối với Việt Nam cho việc tháo gỡ những nút thắt này: Đối với thể chế kinh tế, cần xác định quyền sở hữu rõ ràng theo hướng ghi nhận và bảo hộ các quyền định đoạt, hưởng dụng tài sản trước mọi hành vi xâm phạm, nhà nước cần đảm bảo mọi tranh chấp cần được phán xử không thiên vị bởi toà án độc lập. Đối với thể chế chính trị, cần tạo điều kiện để tăng cường sự tham gia của nhân dân trong quá trình ủy trị quyền lực cho chính quyền. Để thực hiện được điều này cần tạo dựng những thể chế để giúp người dân thực hiện quyền được biết, được tham gia trong đời sống chính trị, qua đó người dân được quyền bày tỏ ý kiến và yêu cầu trách nhiệm giải trình của các cấp chính quyền khi cần thiết.
• Hướng tiếp cận dựa trên các đặc tính hiệu quả của thể chế kinh tế Kasper & Streit (1998) chỉ ra ba đặc tính cơ bản cần có để một thể chế kinh tế trở nên hiệu quả: Tính phổ biến (generality), tính chắc chắn (certainty) và tính mở (openness) Tính phổ biến của thể chế được hiểu là không có sự phân biệt đối xử giữa các chủ thể cũng như các tình huống trong quy tắc thể chế mà không có bất cứ một lý do đặc biệt nào. Nói cách khác các quy tắc này cần đảm bảo tính phổ biến “có thể áp dụng cho một số lượng người và tình huống chưa biết và chưa thể xác định” (Hayek, 1973, 50), tức là chỉ hạn chế một số hành vi nhất định không có sự phân biệt đối xử dù bất kể là ai hay tổ chức, thế lực nào, được thực hiện trong điều kiện nào mà không có lý do thích hợp. Tính chắc chắn biểu hiện ở việc các thể chế đưa ra phải đơn giản, dễ nhận biết, thống nhất, minh bạch nhằm làm cho ngay cả những người dân bình thường cũng có 19 thể đọc, hiểu và thực hiện những quy tắc thể chế một cách dễ dàng.