Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Nghiên cứu hoàn thiện thể chế kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Minh Tuấn, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Nguyễn Minh Tuấn và TS. Hoàng Minh Tuấn, tại Trường Đại học Kinh tế - Luật thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (chuyên ngành Kinh tế chính trị, mã số 62310102, bảo vệ năm 2023).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong các lý thuyết kinh tế học thể chế mới của Ronald Coase, Douglass North và Oliver Williamson, thể chế kinh tế được xác định là nhân tố định hình các động cơ kinh tế (học tập, tiết kiệm, phát minh, đầu tư), thúc đẩy các chủ thể tham gia vào hoạt động kinh tế tìm kiếm lợi ích vật chất. Daron Acemoglu và James A. Robinson (2013) nhấn mạnh thể chế đóng vai trò quyết định đối với sự thành công hay thất bại của nền kinh tế quốc gia.

Thực tiễn Việt Nam đặt ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021). Kinh nghiệm từ các quốc gia trong khu vực như Hàn Quốc, Singapore, Nhật Bản cho thấy việc vượt qua bẫy thu nhập trung bình đòi hỏi phải xây dựng thể chế kinh tế phát triển phù hợp (Trần Văn Thọ, 2015; Nguyễn Văn Giàu, 2016; Ghesquiere, 2008). Thể chế cũng được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là một trong ba khâu đột phá chiến lược.

Tuy nhiên, dữ liệu đo lường chất lượng thể chế qua Bộ chỉ số Quản trị toàn cầu (WGI) của Ngân hàng Thế giới (World Bank) cho thấy chất lượng thể chế kinh tế Việt Nam ở mức trung bình. Báo cáo dòng chảy pháp luật kinh doanh của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI, 2022) phản ánh thể chế kinh tế là vướng mắc lớn nhất đối với doanh nghiệp. Các nghiên cứu trước đây (Lê Du Phong, 2018; Lê Xuân Bá, 2013; Trần Quốc Toản, 2019; Nguyễn Hồng Nga, 2015; Nguyễn Đình Cung, 2019; Võ Đại Lược, 2020) đã chỉ ra các hạn chế: quyền sở hữu đất đai và sở hữu trí tuệ chưa được bảo vệ đầy đủ; còn rào cản đối với tự do kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng; quản lý nhà nước còn can thiệp hành chính làm sai lệch tín hiệu thị trường; phân phối nguồn lực chưa thực sự theo nguyên tắc thị trường. Do đó, việc nghiên cứu hoàn thiện thể chế kinh tế trong bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam là yêu cầu cấp thiết.

Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

  • Mục tiêu tổng quát: Trên cơ sở phân tích lý thuyết về thể chế kinh tế và đánh giá thực tiễn nền kinh tế Việt Nam, luận án tìm ra những mặt hạn chế, yếu kém, từ đó đề xuất các định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế kinh tế, góp phần thúc đẩy nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Thứ nhất, xác định hướng tiếp cận nghiên cứu hoàn thiện thể chế kinh tế trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam dựa trên lý thuyết kinh tế chính trị Mác - Lênin.
    2. Thứ hai, đánh giá thực trạng thể chế kinh tế ở Việt Nam, làm rõ những mặt hạn chế, yếu kém và nguyên nhân của các hạn chế này.
    3. Thứ ba, đề ra định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế kinh tế ở Việt Nam.
  • Câu hỏi nghiên cứu:
    1. Thứ nhất, nghiên cứu nhằm hoàn thiện thể chế kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay có thể tiếp cận trên phương diện kinh tế chính trị Mác - Lênin như thế nào?
    2. Thứ hai, thể chế kinh tế Việt Nam hiện nay còn tồn tại những hạn chế, yếu kém nào cần tiếp tục phải hoàn thiện và nguyên nhân của những hạn chế này là gì?
    3. Thứ ba, cần có những định hướng và giải pháp cơ bản nào để có thể hoàn thiện thể chế kinh tế Việt Nam hiện nay?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Thể chế kinh tế của Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Phạm vi không gian: Không gian nền kinh tế Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung vào giai đoạn từ năm 2011 (thời điểm xác định thể chế là một trong ba đột phá chiến lược) đến năm 2022.
  • Phạm vi nội dung: Luận án giới hạn phân tích trên các "thể chế kinh tế chính thức" (Hiến pháp, Luật, Nghị định...), không đưa thể chế phi chính thức vào nghiên cứu. Nội dung tập trung vào 3 trụ cột:
    1. Thể chế sở hữu (giới hạn ở sở hữu tài sản hữu hình là đất đai và sở hữu trí tuệ) và các thành phần kinh tế (quyền tự do và bình đẳng trong hoạt động kinh doanh).
    2. Thể chế quản lý của nhà nước trong hoạt động kinh tế (quy định và cơ chế tác động đến hiệu quả quản lý kinh tế).
    3. Thể chế phân phối nguồn lực phát triển (tập trung vào các nguồn lực do nhà nước nắm giữ và thực hiện phân bổ).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng tiếp cận nghiên cứu về thể chế kinh tế

Tác giả hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo 5 nhóm hướng tiếp cận chính:

  1. Hướng tiếp cận dựa trên sự tiến hóa của thể chế kinh tế: Douglass C. North (1990, 1991) phân tích sự tiến hóa thể chế từ chuyên môn hóa, phân công lao động làm xuất hiện thể chế phi chính thức đến thể chế chính thức nhằm giảm chi phí giao dịch. Oliver Williamson (2000) khái quát hóa 4 tầng thể chế: Tầng 1 (thể chế phi chính thức, trơ ì), Tầng 2 (môi trường thể chế chính thức), Tầng 3 (thể chế quản trị hợp đồng), Tầng 4 (tối ưu hóa phân bổ tân cổ điển).
  2. Hướng tiếp cận dựa trên tính chất của thể chế kinh tế: Daron Acemoglu và James A. Robinson (2013) phân loại thể chế kinh tế và thể chế chính trị thành hai trạng thái "dung hợp" (inclusive) và "chiếm đoạt" (extractive), khẳng định thể chế dung hợp khuyến khích sở hữu tư nhân, pháp luật bình đẳng và thúc đẩy tăng trưởng dài hạn.
  3. Hướng tiếp cận trên cơ sở nền tảng thể chế kinh tế hiện đại: Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (World Bank, 2009) chỉ ra hai khía cạnh cốt lõi của thể chế hiện đại là phân cấp trao quyền và trách nhiệm giải trình (theo hướng lên trên và hướng xuống dưới).
  4. Hướng tiếp cận dựa trên các đặc tính hiệu quả của thể chế kinh tế: Kasper & Streit (1998) xác định ba đặc tính: tính phổ biến (generality - Hayek, 1973), tính chắc chắn (certainty - Schuck, 1992; North, 1987) và tính mở (openness).
  5. Hướng tiếp cận trên cơ sở cơ cấu các yếu tố cấu thành thể chế: Trần Quốc Toản (2019) phân tích thể chế qua cấu trúc đồng bộ giữa ba yếu tố: người chơi, luật chơi, sân chơi và hệ thống chế tài đi kèm.

Các nghiên cứu về hạn chế và định hướng hoàn thiện thể chế kinh tế ở Việt Nam

  • Nghiên cứu về hạn chế: Perkins D. và nhóm tác giả (2013) chỉ ra sự kém hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước, khu vực tư nhân và nông nghiệp bắt nguồn từ thể chế sở hữu và quản lý. Mallon & Raymond (2015) nêu thách thức chuyển đổi sang thể chế dung hợp. Maruichi Daisuke & Abe Masato (2018) đánh giá tác động của tham nhũng đối với môi trường kinh doanh. Lê Xuân Bá (2013), Lê Đăng Doanh (2014) phân tích bất cập trong phân bổ nguồn lực ODA, đất đai và tài nguyên. Nguyễn Đình Cung (2015, 2019), Nguyễn Hồng Nga (2015), Phí Mạnh Hồng (2017), Lê Du Phong (2018), Nguyễn Văn Thạo (2019), Vũ Tiến Lộc (2019), Võ Đại Lược (2020), World Bank & Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2016) chỉ rõ các rào cản: pháp luật chồng chéo, can thiệp hành chính, bất bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và thiếu trách nhiệm giải trình.
  • Nghiên cứu về định hướng và giải pháp: Tarp (2018) khuyến nghị cải cách thể chế để tránh bẫy thu nhập trung bình; Chu Văn Cấp (2018) đề xuất chuyển phương thức quản lý sang kiến tạo phát triển; Nguyễn Kế Tuấn (2019) nhấn mạnh mô hình nhà nước kiến tạo; Nguyễn Văn Vĩnh (2019) đề xuất đổi mới đồng bộ chính trị và kinh tế; Lê Thị Hồng Thúy (2022), Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2022) đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng thể chế địa phương và thúc đẩy lan tỏa FDI.

Khoảng trống nghiên cứu

Luận án kế thừa các lý thuyết thể chế hiện đại và phân loại thể chế dung hợp/chiếm đoạt. Khoảng trống mà luận án tập trung giải quyết là: kết hợp lý luận kinh tế chính trị Mác - Lênin với lý thuyết kinh tế thể chế mới để phân tích một cách hệ thống thể chế kinh tế Việt Nam; làm rõ tác động của thể chế chính trị mang tính định hướng xã hội chủ nghĩa đến việc xây dựng và thực thi thể chế kinh tế.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án định nghĩa: Thể chế kinh tế là tập hợp các quy tắc được thiết lập nhằm chi phối, điều chỉnh các tương tác kinh tế, cùng với những cơ chế và chế tài để đảm bảo việc xây dựng và thực thi hiệu quả các quy tắc đã được đặt ra.

Khung phân tích của luận án kết hợp quan điểm kinh tế chính trị Mác - Lênin về ba mặt của quan hệ sản xuất (quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chức quản lý, quan hệ phân phối) với lý thuyết kinh tế thể chế mới (North, Williamson, Acemoglu & Robinson) theo định hướng xây dựng thể chế dung hợp:

  1. Thể chế sở hữu và các thành phần kinh tế: Bảo vệ quyền sở hữu tài sản (đất đai, sở hữu trí tuệ), tạo lập môi trường tự do kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng.
  2. Thể chế quản lý nhà nước trong hoạt động kinh tế: Phân định thẩm quyền lập pháp - hành pháp, phân cấp phân quyền thống nhất, loại bỏ can thiệp mệnh lệnh hành chính vào tín hiệu thị trường.
  3. Thể chế phân phối nguồn lực phát triển: Phân bổ nguồn lực do nhà nước nắm giữ theo cơ chế thị trường, đảm bảo quyền tiếp cận công bằng.

Khung phân tích cũng xem xét 3 nhóm nhân tố ảnh hưởng: thể chế chính trị, bộ máy xây dựng và tổ chức thi hành, cơ chế xây dựng và tổ chức thi hành.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và phương pháp nghiên cứu định tính với các kỹ thuật cụ thể:

  • Phương pháp trừu tượng hóa khoa học: Phân tích các khía cạnh xây dựng và thực thi thể chế, loại bỏ các yếu tố ngẫu nhiên, tạm thời để khái quát hóa các thuộc tính bản chất của thể chế kinh tế Việt Nam.
  • Phương pháp chuyên gia: Khảo sát kết quả nghiên cứu công bố của 17 chuyên gia và công trình khoa học (Nguyễn Hồng Nga, 2015; Võ Phan Quang Thế, 2020; Lê Thị Hồng Thúy, 2021; Nguyễn Thị Hồng Hạnh, 2022; Đặng Văn Cường, 2016; Trần Quang Tuyến & Vũ Văn Hưởng, 2016; Huỳnh Công Minh & Nguyễn Tấn Lợi, 2017; Đỗ Tuyết Nhung & Lê Quang Cảnh, 2020; Đinh Thị Thanh Vân & Hồ Thị Phương Dịu, 2021; Bùi Hà Phương & Lê Hồng Thái, 2022; Lê Hồng Ngọc & Hồ Thị Lam, 2022) để xác định việc sử dụng các bộ chỉ số đánh giá.
  • Phương pháp so sánh đối chiếu: So sánh dữ liệu WGI, PCI; so sánh chỉ số Tự do kinh doanh của Heritage Foundation giữa Việt Nam và các nước ASEAN (Singapore, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Philippines); so sánh hiệu quả kinh tế (vòng quay vốn, hệ số nợ, tỷ số lợi nhuận trên tài sản) giữa doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp FDI; so sánh số liệu bình quân cấp tỉnh giữa Việt Nam và các nước Đông Bắc Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc).
  • Phương pháp thống kê mô tả: Trình bày dữ liệu qua các bảng số liệu và biểu đồ từ các bộ chỉ số WGI (tiếng nói và giải trình, kiểm soát tham nhũng), PCI (gia nhập thị trường, cạnh tranh bình đẳng, chi phí không chính thức, tiếp cận đất đai), Heritage Foundation (quyền sở hữu, tự do kinh doanh), World Justice Project (thượng tôn pháp luật).
  • Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình: Phân tích thực tiễn phân cấp, phân quyền và ngân sách tại Thành phố Hồ Chí Minh; phân tích tác động của việc kiểm soát giá dịch vụ y tế trong phòng chống dịch bệnh Covid-19.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp thu thập tại bàn từ báo cáo của World Bank (WGI), VCCI & USAID (PCI), UNDP/CECODES/VFF-CRT (PAPI), The Heritage Foundation, World Justice Project.

Nội dung chính theo từng chương

Chương Tên chương Nội dung cốt lõi
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về thể chế kinh tế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam Hệ thống hóa 5 hướng tiếp cận lý thuyết, các nghiên cứu về hạn chế và giải pháp thể chế kinh tế Việt Nam; xác định giá trị kế thừa và khoảng trống nghiên cứu.
Chương 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về thể chế kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Xây dựng khung khái niệm, lý thuyết thể chế dung hợp, nội dung hoàn thiện 3 trụ cột thể chế; phân tích các nhân tố ảnh hưởng, phương pháp đo lường qua WGI, PCI và thiết lập khung phân tích.
Chương 3 Thực trạng thể chế kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Đánh giá thực trạng sở hữu, quản lý nhà nước, phân phối nguồn lực; chỉ ra hạn chế, yếu kém và nguyên nhân từ thể chế chính trị, bộ máy và cơ chế thực thi.
Chương 4 Định hướng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Phân tích các xu thế lớn (kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, hội nhập); đề xuất định hướng và 3 nhóm giải pháp trọng tâm về sở hữu, quản lý nhà nước và phân phối nguồn lực.

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về thể chế kinh tế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

Chương 1 tổng hợp các hướng nghiên cứu về thể chế kinh tế, phân tích các rào cản và giải pháp được đề xuất trong y văn. Tác giả chỉ ra rằng các công trình trước đây đã ghi nhận thành tựu chuyển đổi từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhưng cũng đồng thuận về các điểm nghẽn: quy định sở hữu và hợp đồng còn yếu; bất bình đẳng giữa các thành phần kinh tế; tham nhũng làm giảm hiệu lực thể chế; can thiệp hành chính làm sai lệch thị trường; phân bổ nguồn lực công chưa hiệu quả. Chương này làm tiền đề xác lập khoảng trống nghiên cứu cho luận án.

Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thể chế kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Chương 2 luận giải các khái niệm, phân loại thể chế (chính thức, phi chính thức, bên trong, bên ngoài theo Bảng 2.1). Luận án vận dụng lý thuyết thể chế mới (North, Williamson, Acemoglu & Robinson) và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam để phân định 3 nội dung hoàn thiện:

  • Hoàn thiện thể chế sở hữu và các thành phần kinh tế.
  • Hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước trong hoạt động kinh tế.
  • Hoàn thiện thể chế phân phối nguồn lực phát triển.

Chương này cũng phân tích 3 nhân tố ảnh hưởng (thể chế chính trị, bộ máy, cơ chế xây dựng và tổ chức thi hành) và phương pháp đo lường chất lượng thể chế qua bộ chỉ số WGI (Hình 2.1, Bảng 2.2) và bộ chỉ số PCI (Hình 2.2, Bảng 2.3), từ đó hoàn thiện khung phân tích ở mục 2.7.

Chương 3: Thực trạng thể chế kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Chương 3 tập trung phân tích thực trạng giai đoạn 2011–2022:

  • Thực trạng thể chế sở hữu và các thành phần kinh tế: Chỉ số Quyền sở hữu (Hình 3.1) và dữ liệu bảo vệ sở hữu trí tuệ (Bảng 3.1, Hình 3.4) cho thấy mức độ bảo vệ còn hạn chế. Chỉ số Tự do kinh doanh (Bảng 3.2, Hình 3.5) và chỉ số Gia nhập thị trường (Bảng 3.3) phản ánh các rào cản điều kiện kinh doanh. Chỉ số Cạnh tranh bình đẳng (Bảng 3.4, Hình 3.6) chỉ ra sự ưu ái đối với doanh nghiệp có liên kết chính quyền (Hình 3.8).
  • Thực trạng thể chế quản lý nhà nước: Tồn tại sự chồng chéo giữa lập pháp và hành pháp; thể chế phân cấp, phân quyền còn bất cập qua nghiên cứu trường hợp phân bổ ngân sách TP.HCM (Hình 3.7); việc can thiệp mệnh lệnh hành chính vào giá cả (điển hình là giá dịch vụ y tế) làm giảm hiệu quả thị trường; chỉ số Thượng tôn pháp luật (Bảng 3.6, Hình 3.9) và chi phí không chính thức (Bảng 3.7) ở mức cần cải thiện.
  • Thực trạng phân phối nguồn lực: Bảng 3.5 so sánh hiệu quả kinh tế giai đoạn 2016–2020 cho thấy doanh nghiệp nhà nước có hiệu quả sử dụng vốn và tài sản thấp hơn so với khu vực tư nhân và FDI.
  • Nguyên nhân hạn chế: Do nội hàm "định hướng xã hội chủ nghĩa" chưa được thể chế hóa cụ thể; bộ máy xây dựng và tổ chức thi hành còn phân tán, chồng chéo; cơ chế tiếp thu ý kiến doanh nghiệp còn thấp (Hình 3.10) và trách nhiệm giải trình chưa cao.

Chương 4: Định hướng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Chương 4 phân tích tác động của kinh tế số, kinh tế chia sẻ, kinh tế tuần hoàn và hội nhập quốc tế. Trên cơ sở so sánh quy mô hành chính cấp tỉnh với Đông Bắc Á (Bảng 4.1), tác giả đề xuất 3 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Nhóm giải pháp về thể chế sở hữu và các thành phần kinh tế: Xác định "sở hữu nhà nước" thay cho "sở hữu toàn dân" về đất đai; thí điểm sở hữu tư nhân/tập thể đối với "đất ở"; xóa bỏ quy định thu hồi đất chung chung; thành lập tòa án chuyên trách về sở hữu trí tuệ; chuyển đổi quan điểm kinh tế nhà nước từ "giữ vai trò chủ đạo" sang "từng bước giữ vai trò chủ đạo".
  2. Nhóm giải pháp về thể chế quản lý nhà nước: Sửa đổi Luật Giá để thị trường điều tiết giá dịch vụ y tế, giáo dục, điện, xăng dầu; hợp nhất Bộ Kế hoạch - Đầu tư và Bộ Tài chính thành "Bộ Kinh tế"; ban hành Luật Tổ chức thi hành pháp luật; thành lập Tòa án Hiến pháp; thành lập Ủy ban giám sát thuộc Quốc hội và Ban giám sát thuộc Hội đồng nhân dân.
  3. Nhóm giải pháp về thể chế phân phối nguồn lực: Thiết lập cơ chế "thưởng, phạt" phân minh trong phân bổ nguồn lực công dựa trên hiệu quả và năng lực cạnh tranh.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Đề xuất hướng tiếp cận nghiên cứu thể chế kinh tế kết hợp giữa lý luận kinh tế chính trị Mác - Lênin (tiếp cận theo ba mặt quan hệ sản xuất: sở hữu, quản lý, phân phối) và trường phái kinh tế thể chế mới (North, Williamson, Acemoglu & Robinson) theo hướng xây dựng thể chế kinh tế dung hợp.
  • Luận giải việc công nhận các quyền sở hữu khác nhau và bình đẳng giữa các thành phần kinh tế về mặt lý luận vẫn đảm bảo tính định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ.
  • Xác định yêu cầu phân định rõ quyền lực trong xây dựng và thực thi thể chế, hạn chế can thiệp hành chính và phân bổ nguồn lực theo nguyên tắc thị trường.

Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất

  • Luận án chỉ ra việc nội hàm "định hướng xã hội chủ nghĩa" chưa được xác định cụ thể đã tạo ra vướng mắc trong thể chế hóa pháp luật về sở hữu đất đai và vai trò của kinh tế nhà nước.
  • Đề xuất các giải pháp mang tính cụ thể:
    1. Về sở hữu và thành phần kinh tế: Chuyển đổi chế độ "sở hữu toàn dân" sang "sở hữu nhà nước" về đất đai; thí điểm cho phép tư nhân, tập thể sở hữu "đất ở"; loại bỏ quy định thu hồi đất vì mục tiêu "phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng" thiếu tiêu chí rõ ràng; lập tòa án chuyên trách sở hữu trí tuệ; tách chức năng làm kinh tế khỏi cơ quan hành chính; chuyển đổi quan điểm kinh tế nhà nước "từng bước giữ vai trò chủ đạo".
    2. Về quản lý nhà nước: Điều chỉnh Luật Giá để thị trường tự điều tiết đối với các lĩnh vực có nhiều thành phần tham gia (y tế, giáo dục, điện, xăng dầu); hợp nhất lĩnh vực Kế hoạch - Đầu tư và Tài chính thành "Bộ Kinh tế"; ban hành Luật Tổ chức thi hành pháp luật; thành lập Tòa án Hiến pháp; lập cơ quan giám sát chuyên trách thuộc Quốc hội (Ủy ban giám sát) và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh (Ban giám sát).
    3. Về phân phối nguồn lực: Xây dựng thể chế "thưởng, phạt" phân minh trong phân bổ nguồn lực dựa trên hiệu quả sử dụng và năng lực cạnh tranh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Luận án chỉ tập trung vào các "thể chế kinh tế chính thức" (văn bản quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành), chưa phân tích sâu tác động của các "thể chế kinh tế phi chính thức" (tập quán, quy ước xã hội, văn hóa kinh doanh).
  • Đối với thể chế sở hữu, nghiên cứu mới chỉ giới hạn ở hai hình thức điển hình là đất đai (tài sản hữu hình) và sở hữu trí tuệ (tài sản vô hình).
  • Đối với thể chế quản lý nhà nước và phân phối, luận án giới hạn trong phạm vi quản lý kinh tế và nguồn lực do nhà nước trực tiếp nắm giữ.
  • Phạm vi dữ liệu và đánh giá thực tiễn giới hạn trong giai đoạn 2011–2022.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng nghiên cứu sang mối quan hệ tương tác giữa thể chế kinh tế chính thức và thể chế phi chính thức trong quá trình vận hành nền kinh tế thị trường tại Việt Nam.
  • Nghiên cứu hoàn thiện thể chế sở hữu đối với các loại hình tài sản mới (tài sản số, tài sản dữ liệu) và thể chế phân phối các nguồn lực ngoài nhà nước.

Giá trị tham khảo

  • Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Kinh tế chính trị và Quản lý kinh tế: Luận án cung cấp khung phân tích kết hợp giữa lý luận Mác - Lênin và Kinh tế học thể chế mới; hệ thống hóa phương pháp đánh giá chất lượng thể chế qua các bộ chỉ số WGI, PCI, PAPI và Rule of Law.
  • Đối với các cơ quan lập pháp và hoạch định chính sách: Các phân tích và đề xuất trong luận án có giá trị tham khảo cho quá trình sửa đổi Luật Đất đai, Luật Giá, Luật Cạnh tranh, cũng như việc nghiên cứu đổi mới cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý kinh tế (mô hình Bộ Kinh tế, Tòa án Hiến pháp, cơ quan giám sát chuyên trách).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án kết hợp những cơ sở lý thuyết nào để xây dựng khung phân tích?

Luận án kết hợp lý luận kinh tế chính trị Mác - Lênin về ba mặt của quan hệ sản xuất (quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chức quản lý, quan hệ phân phối) với lý thuyết kinh tế thể chế mới của Douglass North, Oliver Williamson và lý thuyết thể chế dung hợp của Daron Acemoglu & James Robinson.

2. Tác giả sử dụng những bộ chỉ số nào để đo lường chất lượng thể chế kinh tế Việt Nam?

Luận án sử dụng hai bộ chỉ số chính: Bộ chỉ số Quản trị toàn cầu (WGI) của Ngân hàng Thế giới và Bộ chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của VCCI & USAID. Ngoài ra, tác giả kết hợp số liệu từ chỉ số PAPI (UNDP/CECODES/VFF-CRT), chỉ số Tự do kinh tế (The Heritage Foundation) và chỉ số Thượng tôn pháp luật (World Justice Project).

3. Luận án đề xuất giải pháp gì đối với chế độ sở hữu đất đai ở Việt Nam?

Luận án đề xuất chuyển đổi chế độ sở hữu đất đai từ "sở hữu toàn dân" sang "sở hữu nhà nước", nghiên cứu thí điểm công nhận sở hữu tư nhân và tập thể đối với loại hình "đất ở", đồng thời loại bỏ các quy định thu hồi đất chung chung với lý do "phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng".

4. Luận án kiến nghị những đổi mới gì về tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế?

Tác giả kiến nghị hợp nhất các lĩnh vực Kế hoạch - Đầu tư và Tài chính thành "Bộ Kinh tế"; xây dựng Tòa án Hiến pháp; ban hành Luật Tổ chức thi hành pháp luật; và thành lập Ủy ban giám sát thuộc Quốc hội cùng Ban giám sát thuộc Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.

5. Quan điểm của luận án về việc điều tiết giá các mặt hàng dịch vụ công như thế nào?

Luận án đề xuất điều chỉnh Luật Giá theo hướng các hàng hóa, dịch vụ có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế (y tế, giáo dục, điện, xăng dầu) cần để cho cơ chế thị trường điều tiết thay vì áp dụng mức giá hành chính do nhà nước quyết định.


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Minh Tuấn đã thực hiện nghiên cứu hoàn thiện thể chế kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam dựa trên sự kết hợp giữa kinh tế chính trị Mác - Lênin và kinh tế học thể chế mới. Thông qua phương pháp nghiên cứu định tính và dữ liệu thứ cấp từ các bộ chỉ số WGI, PCI, Heritage Foundation và WJP giai đoạn 2011–2022, tác giả đã làm rõ thực trạng, hạn chế và nguyên nhân của thể chế kinh tế Việt Nam trên ba trụ cột: sở hữu, quản lý nhà nước và phân phối nguồn lực. Công trình đề xuất các nhóm giải pháp cải cách về sở hữu đất đai, cơ chế định giá thị trường, tổ chức bộ máy cơ quan quản lý kinh tế và tăng cường tính thượng tôn pháp luật. Luận án là tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, đào tạo học thuật và hoạch định chính sách kinh tế tại Việt Nam.