CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TH ỰC TIỄN VỀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cho vay dự án đầu tư tại ngân hàng thương mại 1. Khái ni ệm dự án đầu tư Dự án và đầu tư có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Đầu tư phát triển là nguồn gốc ra đời của các dự án.
Ngược lại, việc xây dựng và thực hiện các dự án đầu tư (DA T) sẽ kiểm nghiệm tính đúng đắn và hiệu quả của quyết định đầu tư. Khái niệm về DAĐT hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa nào thật hoàn chỉnh. Tuy nhiên, dự án đầu tư có thể được xem xét từ nhiều góc độ. Theo luật đầu tư số 67/2014/QH13 thì: “DAĐT là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hoặc dài hạn để tiến hành các ho ạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định“ [13].
Theo nghị định số 52/NĐ-CP ngày 08/07/1999 về quản lý và xây d ựng thì: “DAĐT là tập hợp các đề xuất có liên quan t ới việc bỏ vốn để tạo vốn, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chấ t nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm dịch vụ trong khoảng thời gian nhất định“ [1]. Về mặt hình thức, DAĐT là một tập hợp hồ sơ, tài liệu trình bày một cách chi tiết, có h ệ thống các hoạt động, chi phí kéo theo kế hoạch để thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai [11]. Về mặt tài chính, DAĐT là việc bỏ vốn trong hiện tại với hi vọng thu được lợi nhuận trong tương lai. Về mặt quản lý, DAĐT là một công c ụ quản lý vi ệc sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra kết quả tài chính, kinh tế xã hội trong thời gian dài.
DAĐT được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau tu ỳ thuộc vào mục tiêu quản lý, công tác t ổ chức, kế hoạch hoá vốn đầu tư. + Căn cứ vào đặc tính hoạt động, DAĐT được chia thành: (i) Các DAĐT về sản xuất, kinh doanh dịch vụ có kh ả năng hoàn vốn; (ii) Các DAĐT thuộc lĩnh vực 5 đầu tư cơ sở hạ tầng, văn hoá xã hội; (iii) Các DAĐT tổng hợp phát triển kinh tế vùng [3]. + Căn cứ vào biện pháp bảo đảm tiền vay, DAĐT được chia thành 2 loại: (i) DAĐT vay vốn không có đảm bảo bằng tài sản: Đây là những dự án được cho vay không ph ải thực hiện biện pháp bảo đảm mà dựa trên cơ sở sự đánh giá, tin tưởng vào khả năng tài chính, khả năng quản lý, uy tín trong quan hệ đối với Ngân hàng và tính khả thi, hiệu quả của DAĐT; (ii) DAĐT vay vốn có đảm bảo bằng tài sản: Là những DA T mà khách hàng vay vốn phải có tài s ản cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của bên thứ ba được Ngân hàng ch ấp thuận [3]. + Căn cứ vào thời gian vay vốn dự án được chia thành: Dự án ngắn hạn; Dự án trung và dài h ạn.
+ Bên cạnh đó, theo nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/06/2015 của Chính phủ về quản lý DAĐT xây dựng công trình thì DAĐT được chia làm 4 loại: Dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội thông qua v ề chủ trương và cho phép đầu tư. Các dự án còn l ại được phân làm 3 nhóm A, B, C để phân cấp quản lý [1]. Khái ni ệm cho vay dự án đầu tư ngân hàng thương mại Cho vay DAĐT là một trong các nghiệp vụ cho vay tại NHTM, có th ể định nghĩa cho vay DAĐT theo nhiều tiêu chí: căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay, thời hạn của món vay, đối tượng vay vốn. Tại NHTM, người ta chủ yếu sử dụng tiêu chí về thời hạn của món vay để phân biệt cho vay dự án với các hình thức cho vay khác [4].
Theo tiêu chí về thời hạn của món vay: Cho vay DAĐT của NHTM là các khoản cho vay vó th ời hạn trên 12 tháng nhưng không dài hơn thời gian sử dụng còn l ại của tài sản hình thành bằng vốn vay và v ốn t ự có.Vi ệc phân định cụ thể thời hạn cho vay DAĐT tùy thuôc vào quy định của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, theo “Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng” thì, cho vay dự án đầu tư tại NHTM bao gồm cho vay trung hạn và dài h ạn. “Cho vay trung hạn là các món vay có th ời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng; Cho vay dài h ạn là các món cho vay có th ời hạn cho vay từ trên 60 tháng tr ở lên” [4]. 6 Theo tiêu chí về mục đích vay vốn: cho vay dự án đầu tư là hình thức cho vay nhằm mục đích bổ sung nguồn vốn trung, dài hạn hình thành nên tài sản cố định, tài sản dài hạn của người đi vay nhằm phát triển sản xuất theo chiều sâu và chiều rộng.
Từ các khái ni ệm trên, có th ể rút ra định nghĩa về cho vay DAĐT tại NHTM như sau: Cho vay dự án đầu tư của NHTM là các kho ản cho vay có th ời hạn trên 12 tháng nhưng không dài hơn thời gian sử dụng còn l ại của tài sản hình thành từ vốn vay, nhằm mục đích bổ sung nguồn vốn trung, dài hạn, hình thành tài sản cố định, tài sản dài hạn của người đi vay để phát triển sản xuất theo chiều sâu và chi ều rộng. Đặc điểm cho vay dự án đầu tư ngân hàng thương mại Mục đích cho vay DAĐT chủ yếu để hình thành tài sản cố định NHTM cho vay DAĐT để đầu tư cho các dự án xây d ựng mới, mở rộng, cải tạo, khôi ph ục, đổi mới kỹ thuật, ứng dụng khoa học và công ngh ệ nhằm mục tiêu lợi nhuận, phù h ợp với chính sách phát triển kinh tế - xã hội và phát lu ật của Nhà nước. Cho vay DAĐT của NHTM nhằm tài trợ vốn cho việc hình thành tài sản cố định của khách hàng. C ụ thể là: Cho vay DAĐT trung hạ n là lo ạ i hình cho vay vốn được sử dụng để tài trợ cho tài sản cố định như phương tiện vận tải, trang thiết bị, công c ụ dụng cụ; cải tiến đổi mới kỹ thuật và sản phẩm; mở rộng sản xuất kinh doanh; xây dựng các dự án có quy mô nh ỏ và có th ời gian thu hồi vốn nhanh… Cho vay DAĐT dài hạn là loại hình cho vay được sử dụng tài trợ cho công trình xây dựng mới và cải tạo như nhà, cầu đường, máy móc thi ết bị có giá tr ị lới, thời gian sử dụng lâu dài.
Đối tượng cho vay chủ yếu là các chi phí c ấ u thành t ổng mức đầu tư của dự án Đối tượng cho vay DTDA của NHTM: là các chi phí cấ u thành trong tổng mức đầu tư xây dựng mới, mở rộng, cải tạo, khôi ph ục, đổi mới k ỹ thuật, ứng dụng khoa học và công ngh ệ, bao gồm: giá trị vậy tư, máy móc thi ết bị, công ngh ệ chuyển giao, sáng chế và phát minh; chi phí nhân công; giá thuê và chuy ển nhượng 7 đất đai; giá thuê mua các tài sản khác trong khuôn kh ổ Luật định; chi phí mua bảo hiểm tài sản thuộc dự án đầu tư; chi phí khác. Nguồn vốn cho vay DAĐT của NHTM Vốn kinh doanh nói chung và v ốn cho vay DAĐT nói riêng của NHTM hình thành từ 5 nguồn: Vốn chủ sở hữu; vốn huy động dài hạn; vay nước ngoài; vốn nhận ủy thác và v ốn tài trợ để cho vay theo chương trình hoặc dự án đầu tư của Nhà nước, c ủa tổ ch ứ c kinh tế - tài chính, tín dụng - xã hội trong và ngoài nước. Vốn chủ sở hữu hình thành do vốn góp hay do tích lũy được trong quá trình hoạt động kinh doanh có vai trò r ất quan trọng, góp ph ần xác định quy mô và cơ cấu của NHTM, tăng khả năng mở rộng cho vay và đầu tư, đặc biệt là cho vay DAĐT. Về bản chất, NHTM không dùng ngu ồn vốn chủ sở hữu để cân đối nguồn vốn cho vay DAĐT, tuy nhiên vốn chủ sở hữu thường là cơ sở để xác định số tiền cho vay tối đa đối với mỗi DAĐT, các cơ quan quản lý th ường không ch ế tỷ lệ cho vay tối đa đối với một khách hàng băng tỷ lệ cho vay tối đa trên vốn tự có, DAĐT không được vượt quá một tỷ lệ nào đó so với nguồn vốn chủ sở hữu.
Tỷ lệ cho vay tối đa với 1 khách hàng t ại Việt Nam hiện nay là 15%. Công tác th ẩm định dự án đầu tư 1. Khái ni ệm và vai trò c ủa thẩm định dự án đầu tư 1. Khái ni ệm của thẩm định dự án đầu tư Hoạt động đầu tư đã đóng một vai trò không nh ỏ vào việc xây dựng và phát triển ổn định kinh tế xã hội.
Để phát huy được mặt tích cực của các DAĐT và hạn chế được những mặt tiêu cực của nó thì khi chấp thuận việc thực hiện một dự án, người ta thường phân tích đánh giá, xem xét dự án v ề các mặt tài chính, kinh tế xã hội… Để có được một quyết định đúng đắn khi đưa dự án vào th ực hiện. Những hoạt động xem xét, đánh giá dự án nhằm những mục tiêu nói trên được gọi là “thẩm định dự án” [5]. Vậy thẩm định DAĐT là việc tổ chức xem xét m ột cách khách quan có khoa học toàn diện các nội dung cơ bản ảnh hưởng trực tiếp tới tính khả thi của một dự án. Từ đó ra quyết định đầu tư và cho phép đầu tư.
Hay nói cách khác, thẩm định 8 DAĐT chính là việc xác định lại tính khả thi, hiệu quả tài chính của dự án: Đánh giá các yếu tố rủi ro ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay ngân hàng, đảm bảo trong quá trình cho vay dự án phải thu hồi được nợ gốc và lãi. Vai trò c ủa thẩm định dự án đầu tư Đối với chủ đầu tư: Ngân hàng với kinh nghiệm của mình trong thẩm định DAĐT có thể tư vấn cho doanh nghiệp phương án đầu tư có hiệu quả mà bản thân doanh nghiệ p do thiếu khả năng phân tích tổng hợp, thiếu thông tin không th ể lựa chọn được.