Chương 1: Giới thiệu. Chương 2: Cơ sở lý luận. GVHD: Nguyễn Quang Nhơn 4 SVTH: Từ Phúc Hậu Hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục nợ phải trả nhà cung cấp tại SVC Chương 3: Phân tích thực trạng quy trình kiểm toán khoản mục nợ phải trả của Công ty TNHH Kiểm toán Sao Việt – chi nhánh Cần Thơ tại Công ty CP Sao Mai. Chương 4: Nhận xét và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục nợ phải trả tại Công ty TNHH Kiểm toán Sao Việt – chi nhánh Cần Thơ.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị. GVHD: Nguyễn Quang Nhơn 5 SVTH: Từ Phúc Hậu Hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục nợ phải trả nhà cung cấp tại SVC Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN (Doanh nghiệp đang áp dụng chế độ kế toán theo Thông tư 200/2014/TT-BTC) 2. Phương pháp luận 2. Tổng quan về kiểm toán 2.
Khái niệm về kiểm toán Kiểm toán là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng về những thông tin được kiểm tra nhằm xác định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa thông tin đó các chuẩn mực đã được thiết lập. Quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi các KTV đủ năng lực và độc lập. Một số khái niệm liên quan Bằng chứng kiểm toán là tất cả các tài liệu, thông tin do KTV thu thập được liên quan đến cuộc kiểm toán và dựa trên các tài liệu, thông tin này, KTV đưa ra kết luận và từ đó hình thành ý kiến kiểm toán. Bằng chứng kiểm toán phải đảm bảo tính đầy đủ và tính thích hợp: (VSA 200) - Đầy đủ: Là tiêu chuẩn đánh giá về số lượng bằng chứng kiểm toán.
Số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập chịu ảnh hưởng bởi đánh giá của KTV đối với rủi ro có sai sót trọng yếu và chất lượng của mỗi bằng chứng kiểm toán; - Thích hợp: Là tiêu chuẩn đánh giá về chất lượng của các bằng chứng kiểm toán. Bằng chứng kiểm toán phải đảm bảo phù hợp và đáng tin cậy để hỗ trợ cho KTV đưa ra các kết luận làm cơ sở hình thành ý kiến kiểm toán. Hồ sơ kiểm toán là tập hợp các tài liệu kiểm toán do KTV thu thập, phân loại, sử dụng và lưu trữ theo một trật tự nhất định làm bằng chứng cho một cuộc kiểm toán cụ thể. Tài liệu trong hồ sơ kiểm toán được thể hiện trên giấy, trên phim ảnh, trên phương tiện tin học hay bất kỳ phương tiện lưu trữ nào khác theo quy định của pháp luật hiện hành.(VSA 230) Sai sót là sự khác biệt giữa giá trị, cách phân loại, trình bày hoặc thuyết minh của một khoản mục trên BCTC với giá trị, cách phân loại, trình bày hoặc thuyết minh của khoản mục đó theo khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng.
Sai sót có thể phát sinh do nhầm lẫn hoặc gian lận.(VSA 450) Gian lận là hành vi cố ý do một hay nhiều người trong Ban quản trị, Ban Giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện, bằng các hành vi gian dối để thu lợi bất chính hoặc bất hợp pháp.(VSA 240) GVHD: Nguyễn Quang Nhơn 6 SVTH: Từ Phúc Hậu Hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục nợ phải trả nhà cung cấp tại SVC Trọng yếu là nếu thiếu thông tin đó hoặc thiếu tính chính xác của thông tin đó sẽ ảnh hưởng đến các quyết định kinh tế của người sử dụng BCTC. (VSA 320) Mức trọng yếu là một mức giá trị do KTV xác định tùy thuộc vào tầm quan trọng và tính chất của thông tin hay sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể. Mức trọng yếu là một ngưỡng, một điểm chia cắt chứ không phải là nội dung của thông tin cần phải có. Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét cả trên phương diện định lượng và định tính: Định lượng: Số tiền sai phạm ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng BCTC; Định tính: bản chất của sự sai phạm ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng BCTC.
Mức trọng yếu thực hiện là một mức giá trị hoặc các mức giá trị do KTV xác định ở mức thấp hơn mức trọng yếu đối với tổng thể BCTC nhằm giảm khả năng sai sót tới một mức độ thấp hợp lý để tổng hợp ảnh hưởng của các sai sót không được điều chỉnh và không được phát hiện không vượt quá mức trọng yếu đối với tổng thể BCTC.(VSA 320) - Rủi ro kiểm toán(Audit Risk- AR) là rủi ro do KTV đưa ra ý kiến kiểm toán không phù hợp khi BCTC đã được kiểm toán còn chứa đựng sai sót trọng yếu. Các bộ phận của rủi ro kiểm toán: (VSA 200) - Rủi ro tiềm tàng (Inherent Risk- IR): Là rủi ro tiềm ẩn, vốn có, do khả năng cơ sở dẫn liệu của một nhóm giao dịch, số dư tài khoản hay thông tin thuyết minh có thể chứa đựng sai sót trọng yếu, khi xét riêng lẻ hay tổng hợp lại, trước khi xem xét đến bất kỳ kiểm soát nào có liên quan; - Rủi ro kiểm soát (Control Risk- CR): Là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu, khi xét riêng lẻ hay tổng hợp lại, đối với cơ sở dẫn liệu của một nhóm giao dịch, số dư tài khoản hay thông tin thuyết minh mà KSNB của đơn vị không thể ngăn chặn hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp thời; - Rủi ro phát hiện (Detect Risk- DR): Là rủi ro mà trong quá trình kiểm toán, các thủ tục mà KTV thực hiện nhằm làm giảm rủi ro kiểm toán xuống tới mức thấp có thể chấp nhận được nhưng vẫn không phát hiện được hết các sai sót trọng yếu khi xét riêng lẻ hoặc tổng hợp lại. Mối quan hệ giữa các loại rủi ro: AR = IR x CR x DR hoặc DR = AR/(IR x CR) GVHD: Nguyễn Quang Nhơn 7 SVTH: Từ Phúc Hậu Hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục nợ phải trả nhà cung cấp tại SVC Bảng 2.1: BẢNG MA TRẬN XÁC ĐỊNH RỦI RO PHÁT HIỆN Đánh giá của KTV về rủi ro kiểm soát Cao Trung bình Thấp Cao Thấp nhất Thấp Trung bình Đánh giá của KTV về rủi ro Trung bình Thấp Trung bình Cao tiềm tàng Thấp Trung bình Cao Cao nhất (Nguồn: Giáo trình kiểm toán 1 – Đại học Tây Đô) 2. Khái quát chung về khoản mục Nợ phải trả 2.
Khái niệm nợ phải trả Nợ phải trả là nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp, phát sinh từ các giao dịch và sự kiện đã qua mà doanh nghiệp sẽ phải thành toán từ các nguồn lực của mình. Nợ phải trả xác định nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp khi doanh nghiệp nhận về một tài sản, tham gia một cam kết hoặc phát sinh các nghĩa vụ pháp lý. Nội dung khoản mục nợ phải trả Nội dung khoản mục Nợ phải trả được trình bày trên BCĐKT ở phần Nguồn vốn, mục A: nợ phải trả gồm 2 loại nợ ngắn hạn và nợ dài hạn và được chi tiết theo từng đối tượng phải trả. - Nợ ngắn hạn là những khoản nợ phải thanh toán trong vòng 12 tháng (một chu kỳ kinh doanh); - Nợ dài hạn là những khoản nợ phải thanh toán trong vòng trên 12 tháng (trên một chu kỳ kinh doanh).
Đặc điểm Nợ phải trả là khoản mục quan trọng trên BCTC do đơn vị sử dụng nguồn tài trợ ngoài vốn chủ sở hữu. Nhưng sai lệch về nợ phải trả có thể gây trọng yếu đến BCTC về mặt: - Tình hình tài chính: Các chỉ số quan trọng trong việc đánh giá tình hình tài chính thường liên quan đến nợ phải trả. Do đó, những sai lệch trong việc ghi chép hoặc tŕnh bày nợ phải trả trên BCTC có thể sai lệch các chỉ số về GVHD: Nguyễn Quang Nhơn 8 SVTH: Từ Phúc Hậu Hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục nợ phải trả nhà cung cấp tại SVC khả năng thanh toán, làm người sử dụng hiểu sai về tình hình tài chính của đơn vị; - Kết quả hoạt động kinh doanh: Nợ phải trả có mối quan hệ mật thiết với chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, những sai lệch trong việc ghi chép hoặc trình bày nợ phải trả có thể dẫn đến sai lệch trong kết quả hoạt động kinh doanh.
Mục tiêu kiểm toán Các khoản phải trả trình bày trên Bảng CĐKT là có thực và là nghĩa vụ của doanh nghiệp; Các khoản phải trả được thể hiện đầy đủ trên Bảng CĐKT; Các khoản phải trả được đánh giá đúng giá trị; Các khoản phải trả được phân loại, trình bày và khai báo đúng quy định. Hiểu biết về hoạt động kinh doanh và hệ thống kiểm soát nội bộ của nợ phải trả Trong doanh nghiệp có thể có nhiều khoản mục nợ phải trả cho các đối tượng khác nhau và có những đặc điểm về KSNB khác nhau. Tuy nhiên do giới hạn về thời gian thực hiện đề tài nên phần này chỉ giới thiệu về KSNB đối với nợ phải trả. KSNB về nợ phải trả cần được nghiên cứu trong mối quan hệ với các thủ tục kiểm soát khác trong chu trình mua hàng và trả tiền.
Sau đây là một quy trình mẫu: (1) Kho hàng hoặc bộ phận kiểm soát HTK chuẩn bị và lập phiếu đề nghị mua hàng để gửi cho bộ phận mua hàng. Một liên của chứng từ này được lưu để theo dõi về tình hình thực hiện các yêu cầu. Khi nghiệp vụ mua hàng đã hoàn thành, sau khi đã đối chiếu, chứng từ này sẽ được lưu trữ và đính kèm theo các chứng từ liên quan như đơn đặt hàng, phiếu nhập kho,… (2) Bộ phận mua hàng căn cứ vào phiếu đề nghị mua hàng để xem xét về nhu cầu và chủng loại hàng cần mua, đồng thời khảo sát về nhà cung cấp, chất lượng và giá cả,… Sau đó, bộ phận này phát hành đơn đặt hàng, nó phải được đánh số liên tục và lập thành nhiều liên. Ngoài liên gửi cho nhà cung cấp, các liên còn lại sẽ gửi cho bộ phận kho, bộ phận nhận hàng và kế toán nợ phải trả.
(3) Khi tiếp nhận hàng tại kho, bộ phận nhận hàng kiểm tra chất lượng lô hàng và cân đong đo điếm… Mọi nghiệp vụ nhận hàng đều phải lập phiếu nhập kho (hoặc báo cáo nhận hàng) có chữ ký của người giao hàng, bộ phận GVHD: Nguyễn Quang Nhơn 9 SVTH: Từ Phúc Hậu Hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục nợ phải trả nhà cung cấp tại SVC nhận hàng và thủ kho… Phiếu này phải đánh sô liên tục trước khi sử dụng, được lập thành nhiều liên và gửi ngay cho các bộ phận liên quan như kho hàng, mua hàng, kế toán nợ phải trả,… (4) Trong bộ phận kế toán nợ phải trả, các chứng từ cần được đóng dấu ngày nhận.