Chương I: Cơ sở lý luận về kiểm toán BCTC Dự án đầu tư bằng nguồn vốn ODA do các công ty kiểm toán độc lập thực hiện. Tổng quan về dự án ODA 1. Nguồn gốc, các khái niệm và định nghĩa về ODA Từ xa xưa, các hình thức của Viện trợ phát triển chính thức đã tồn tại thông qua việc giúp đỡ lẫn nhau giữa các bộ tộc, rồi sau đó là các nước với nhau trong một liên minh khi một nước có sự thiếu thốn và kém phát triển hơn. Viện trợ thường được thực hiện bằng hàng hóa và có sự đi kèm với các điều kiện về thông thương, liên minh quân đội, về việc sử dụng chung các hải cảng quan trọng… Sau khi hệ thống tiền tệ thế giới được thiết lập, việc vay mượn giữa nước này với nước kia chủ yếu được thực hiện bằng tiền.
Hàng hóa, lương thực, thực phẩm được dùng để hỗ trợ khẩn cấp trong các trường hợp thiên tai, dịch bệnh… Các quốc gia có hỗ trợ phát triển chính thức còn lập ra các cơ quan quản lý chuyên trách của mình, và thành lập các tổ chức quốc tế trong việc giúp đỡ các nước kém phát triển và đang phát triển thực hiện các chiến lược phát triển của mình, theo đuổi các mục tiêu thiên niên kỷ của Liên Hiệp Quốc. ODA là viết tắt của cụm từ Official Development Assistance, dịch ra tiếng Việt là “Viện trợ phát triển chính thức”, được định nghĩa như sau: Theo Ủy ban hỗ trợ phát triển DAC: “ODA là nguồn vốn hỗ trợ chính thức từ bên ngoài bao gồm các khoản viện trợ và cho vay với các điều kiện ưu đãi. ODA được hiểu là nguồn vốn dành cho các quốc gia kém và đang phát triển (và các tổ chức nhiều bên), được các cơ quan chính thức của các Chính phủ Trung ương và Địa phương hoặc các cơ quan thừa hành của Chính phủ, các tổ chức phí chính phủ tài trợ. ” Theo Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển OECD: “ODA là một giao dịch chính thức được thiết lập với mục đích chính là thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội ở các nước đang phát triển.
Điều kiện tài chính của các giao dịch này có tính chất ưu đãi và yếu tố viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25%. Vốn ODA phát sinh từ nhu cầu cần thiết của một quốc gia, một địa phương, một ngành, được Tổ chức quốc tế hay một nước bạn nào đó xem xét và cam kết tài trợ thông qua một Hiệp định quốc tế, được đại diện có thẩm quyền của hai bên nhận và hỗ trợ vốn ký kết. Hiệp định quốc tế này được chi phối bởi Công pháp quốc tế.” Bùi Xuân Bắc MSV: 16A4020048 2 Khóa luận tốt nghiệp Theo Nghị định 16/2016-NĐCP: “ Vốn ODA, vốn vay ưu đãi là nguồn vốn của nhà tài trợ nước ngoài cung cấp cho Nhà nước hoặc Chính phủ cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để hỗ trợ phát triển, đảm bảo phúc lợi và an sinh xã hội, bao gồm: Vốn ODA viện trợ không hoàn lại là loại vốn ODA không phải trả lại cho nhà tài trợ nước ngoài. Vốn vay ODA là loại vốn phải hoàn trả lại cho nhà tài trợ nước ngoài với mức ưu đãi về lãi xuất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ, bảo đảm yếu tố không hoàn lại đạt ít nhất 35% đối với khoản vay có rang buộc và ít nhất 25% đối với khoản vay không rang buộc.
Vốn vay ưu đãi là loại vốn vay có mức ưu đãi cao hơn so với vay thương mại, nhưng yếu tố không hoàn lại chưa đạt tiêu chuẩn của vốn vay ODA. Vai trò của ODA 1. Đối với nước cung cấp ODA Việc cung cấp ODA cho các nước kém và đang phát triển, xét về lợi ích kinh tế thuần túy, bên ngoài có vẻ các nước tài trợ bị thiệt vì họ là nước đi cho (đối với viện trợ không hoàn lại), hoặc cho vay ưu đãi với lãi xuất thấp trong thời gian dài. Nhưng thực tế các nhà tài trợ thường gắn điều kiện về thương mại với các khoản viện trợ, buộc các nước tiếp nhận phải nhập thiết bị, hàng hóa, nguyên liệu, từ nước viện trợ hoặc nơi nước tài trợ yêu cầu.
Thông thường, các lợi ích về kinh tế chỉ là gián tiếp và sau một thời gian mới phát huy tác dụng. Với mục tiêu hỗ trợ phát triển kinh tế và xã hội cho các nước đang phát triển, các nước tài trợ đặc biệt ưu tiên cung cấp ODA cho các dự án thuộc lĩnh vực đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng mặc đù đầu tư vào lĩnh vực này xem như không có lãi. Nhưng hỗ trợ đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng là biện pháp gián tiếp dọn đường để chuẩn bị cho đầu tư nước ngoài, mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa và giành được sự cung cấp nững vật tư chiến lược chủ yếu của các nước tài trợ. Mục đích chính trị của hoạt động cho vay và tài trợ thường được thể hiện trực tiếp bằng các nêu ra các điều kiện để nhạn được khoản viện trợ.
Mục tiêu chính trị có thể thấy rõ trong chiến tranh Lạnh để lôi kéo đồng minh. Các nước phương Tây nêu các điều kiện chính trị kèm theo các khoản viện trợ kinh tế như cải cách mở cửa một cách toàn diện kinh tế thị trường, ra sức đẩy nhanh tư hữu hóa, đòi các nước nhận viện trợ thừa nhận một số chuẩn mực nào đó như tư tưởng tự do, nhân quyền, tôn giáo,… Bùi Xuân Bắc MSV: 16A4020048 3 Khóa luận tốt nghiệp Một điểnn hình trong tài trợ ODA là Nhật Bản, đây là công cụ quan trọng trong chính sách đối ngoại. Sau chiến tranh thế giới thứ II, hình ảnh phát xít Nhật và tội ác của họ gây ra khắp châu Á để lại ấn tườn không mấy tốt đẹp. Bởi vậy, khi đã đạt được một số thành tựu trong khôi phục và phát triển kinh tế, Nhật Bản quyết định áp dụng chính sách viện trợ và bồi thường chiến tranh cho những nước đã bị họ chiếm đóng theo điều 14 Bản Hiệp địnhHòa bình San Francisco như: tháng 11 năm 1954, Nhật ký hiệp định bồi thường chiến tranh vpus Myanma, tháng 5 năm 1956 với Philippin, thnags 1 năm 1958 với Indonexia và với Việt Nam và tháng 5 năm 1959.
Ngoài việc hoàn thành nghĩa vụ tinh thần để chứng tỏ sự hối lỗi về những gì họ gây ra, chính phủ Nhật còn muốn lợi dụng viejc bồi thường chiến tranh và viện trợ là cơ hội để mở rộng kinh tế đối với nước láng giềng, thiết lập mối quan hệ thân thiện. giúp các doanh nghiệp Nhật dễ dàng thâm nhập thị trường, tạo dựng niềm tin vafuy tín,… 1. Đối với nước nhận ODA a. Mặt tích cực ODA bổ sung cho nguồn vốn trong nước: Lịch sử phát triển của các nước trên thế giới đã chứng minh rằng vốn đầu tư và hiệu quả vốn đầu tư là một trong những yếu tố quan trọng tác động đến sự phát triển nói chung và tăng trưởng kinh tế nói riêng của mỗi quốc gia.
Đặc biệt với những nước nghèo, trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển, do mức thu nhập thấp nên khả năng tích lũy rất khiêm tốn trong khi lại cần khoản vốn lớn để đầu tư nhằm mục tiêu hình thành và phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng các cong trình nền tảng lâu dài cho phát triền kinh tế. Mặt khác, do nền công nghiệp của các nước nghèo chưa phát triển, hàng hóa xuất khẩu đa phần là sản phẩm thô (nông sản, nguyen liệu thô…) có giá trị thấp. Ngược lại, nhu cầu phát triển đòi hỏi phải nhập khẩu hàng hóa cao cấp như máy móc, thiết bị, chất hóa học, phân bón,… là những hàng có giá trị cao. Vì thế, cán cân thương mại luôn trong tình trạng thâm hụt nặng nề.
Đối với nguồn vốn FDI, do các chủ đầu tư muốn bỏ vốn ra với mục đích thu lợi nhuận và thu hồi vốn nhanh nên nguồn vốn này thường được đầu tư vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh. Trong khi đó, ODA vừa có khối lượng lớn, vừa có tính ưu đãi nên thường được đầu tư vào cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục, hệ thống đường xá, thông tin viễn thông… Do vậy, ODA thực sự bổ trợ cho nguồn vốn trong nước. ODA giúp nước ngheo tiếp thu những thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại và phát triển nguồn nhân lực: Hỗ trợ kỹ thuật là một hình thức cung cấp ODA của các nước, các tổ chức liên quan đến việc chuyển giao bí quyết kỹ thuật, công nghệ, những kinh nghiệm hoặc trao đổi ý kiến nhằm mục đích Bùi Xuân Bắc MSV: 16A4020048 4 Khóa luận tốt nghiệp phát triển khả năng quản lý nền kinh tế ổn định, có hiệu quả của nước nhận. Những dự án về hỗ trợ kỹ thuật thành công có tác dụng to lớn đối với phát triển nguồn nhân lực.
Đây là lợi ích căn bản, lâu dài mà ODA đem lại cho các nước nhận tài trợ. ODA giúp các nước đang phát triển hoàn thiện cơ cấu kinh tế. Đối với các nước đang phát triển, khó khắn kinh tế là điều không trành khỏi, trong đó nợ nước ngoài và thâm hụt cán cân thánh toán quốc tế ngày một gia tăng là tình trạng phổ biến. Để giải quyết tình trạng này, các nước đang phát triển cố gắng hoàn thiện cơ cấu kinh tế bằng các phối hợp với các tổ chức (WB, IMF, ADB,,…) và các nước tài trợ, hướng các dự án vào việc hỗ trợ ngân sách, phát triển khu vực tư nhân, phát triển sản xuất, hoàn thiện cơ cấu kinh tế… ODA gia tăng khả năng thu hút vốn FDI và tạo điều kiện để mở rộng đầu tư phát triển trong nước của các nước đang phát triển: Để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực nào đó, các quốc gia phải tạo cho họ môi trường đầu tư thuận lợi như cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội, hệ thống chính sách pháp luật ổn định… đảm bảo đầu tư có lợi với phí tổn thấp, hiệu quả đầu tư cao.
Muốn vậy, đầu tư của nhà nước cần tạp trung nâng cấp, cải thiện và xây mới cơ sở hạ tầng, hệ thống tài chính, ngân hàng… ĐỂ thực hiện điều này trong khi nguồn ngân sách hạn hẹp, các nước đều dựa vào nguồn vốn ODA. Môi trường đầu tư một khi được cải thiện sẽ tăng sức hút với dòng vốn đầu tư bên ngoài, thúc đẩy đầu tư trong nước. Mặt khác, việc sử dụng nguồn vốn ODA đầu tư trong nước cũng tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong nước tập trung đầu tư cho các công trình sản xuất kinh doanh có khae năng mang lại lợi nhuận.