Tổng quan nghiên cứu

Ngành công nghiệp dầu khí giữ vai trò là một trong những trụ cột kinh tế kỹ thuật hàng đầu của đất nước. Đến năm 2011, sản lượng khai thác trong nước đã đạt mốc trên 15 triệu tấn dầu mỗi năm, tương đương khoảng 320.000 thùng dầu mỗi ngày, cùng hơn 8 tỷ mét khối khí thiên nhiên trên phạm vi diện tích thềm lục địa gần 1 triệu kilômét vuông. Song song với sự gia tăng quy mô sản xuất, áp lực ô nhiễm môi trường biển và đất liền từ các hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác, tàng trữ, vận chuyển và chế biến dầu khí ngày càng gia tăng.

Khung pháp lý chuyên ngành bảo vệ môi trường dầu khí tại Việt Nam từng dựa chủ yếu vào Quy chế bảo vệ môi trường ban hành theo Quyết định số 395/1998/QĐ-BKHCNMT ngày 10/04/1998 (gọi tắt là Quy chế 1998), bao gồm 8 chương và 48 điều. Tuy nhiên, sau 14 năm thi hành tính đến năm 2012, sự chuyển đổi mạnh mẽ của hệ thống pháp luật môi trường quốc gia và sự ra đời của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, Luật Dầu khí sửa đổi năm 2008 cùng Luật Biển năm 2012 đã làm nảy sinh nhiều điểm xung đột, chồng chéo. Nhiều quy định trong Quy chế 1998 đã trở nên lỗi thời, không theo kịp các công nghệ khoan biển sâu trên 90 mét hay chuỗi công nghiệp lọc hóa dầu và điện khí mới hình thành.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là xây dựng dự thảo hoàn chỉnh mang tên "Quy chế bảo vệ môi trường trong các hoạt động dầu khí" dựa trên việc rà soát toàn diện 48 điều khoản của Quy chế 1998, đối chiếu với các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia mới nhất và thông lệ quốc tế. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ 5 lĩnh vực hoạt động dầu khí tại Việt Nam từ năm 1998 đến năm 2012. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc tạo lập một hành lang pháp lý chuẩn xác, giúp giảm thiểu trên 90% các vướng mắc thủ tục hành chính, đồng thời nâng cao hiệu lực kiểm soát xả thải và ứng phó sự cố môi trường đối với hơn 15 đơn vị, nhà thầu dầu khí đang hoạt động thương mại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết quản lý môi trường tích hợp (Integrated Environmental Management) kết hợp với khung phân tích thể chế và chính sách công trong lĩnh vực công nghiệp khai khoáng. Khung lý thuyết này vận dụng bộ 6 tiêu chí chuẩn hóa nhằm rà soát và đánh giá văn bản pháp luật đặc thù ngành, bao gồm: tính toàn diện, tính dự báo, tính minh bạch, tính thống nhất, tính hợp lý và tính khả thi.

Mô hình nghiên cứu xác lập mối quan hệ tương tác hữu cơ giữa ba trụ cột: hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường (QCVN), thông lệ dầu khí quốc tế và điều kiện vận hành thực tế của chuỗi giá trị dầu khí. Năm khái niệm chuyên ngành cốt lõi được chuẩn hóa xuyên suốt nghiên cứu gồm:

  • Hoạt động dầu khí trọn vòng đời từ thượng nguồn, trung nguồn đến hạ nguồn;
  • Đánh giá tác động môi trường chuyên ngành dầu khí;
  • Quản lý chất thải khoan ngoài khơi bao gồm dung dịch khoan và mùn khoan thải;
  • Nước khai thác thải từ các công trình biển;
  • Thu dọn công trình dầu khí và phục hồi môi trường sau khai thác.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa thu thập dữ liệu thứ cấp, phân tích so sánh pháp lý và điều tra khảo sát chuyên gia. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 15 đơn vị, nhà thầu dầu khí tiêu biểu đại diện cho toàn bộ các khâu trong chuỗi cung ứng dầu khí Việt Nam (như Vietsopetro, Petrolimex, PV Drilling, PTSC, Saigon Petro) cùng 25 chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực an toàn môi trường và kỹ thuật dầu khí. Phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích (purposive sampling) được lựa chọn nhằm đảm bảo các đơn vị tham gia khảo sát có đủ năng lực chuyên môn, đại diện chuẩn xác cho các phân khúc ngoài khơi, trên bờ và các cảng căn cứ dịch vụ.

Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ 10 đạo luật liên quan, hơn 30 nghị định, thông tư của Việt Nam, cùng 12 bộ quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN). Dữ liệu quốc tế được trích xuất từ văn bản quản lý của 5 quốc gia phát triển dầu khí (Anh, Canada, Australia, Trung Quốc, Malaysia) và các hướng dẫn môi trường của Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC), Ngân hàng Thế giới (WB) cùng Công ước Quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm từ tàu (MARPOL 73/78). Phương pháp phân tích so sánh đối chiếu pháp lý được lựa chọn vì tính ưu việt trong việc chỉ ra các khoảng trống và điểm mâu thuẫn giữa luật chung và luật chuyên ngành. Toàn bộ quá trình nghiên cứu, khảo sát thực tế và phân tích dữ liệu được tiến hành liên tục trong khoảng thời gian từ tháng 02/2012 đến tháng 11/2012.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích đối chiếu cho thấy toàn bộ 48 điều của Quy chế 1998 đã bộc lộ những bất cập sâu sắc trước thực tiễn phát triển của ngành:

Thứ nhất, có hơn 60% điều khoản trong Quy chế 1998 không còn tương thích với hệ thống luật pháp hiện hành. Sự thay đổi về thẩm quyền quản lý nhà nước khi chuyển giao trách nhiệm quản lý môi trường từ Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường sang Bộ Tài nguyên và Môi trường, đồng thời giao Bộ Công Thương thực hiện chức năng quản lý nhà nước về dầu khí đã làm vô hiệu hóa nhiều quy định về phân cấp thẩm quyền. Thuật ngữ pháp lý đã thay đổi căn bản, ví dụ như thuật ngữ "tháo dỡ" công trình đã được Luật Dầu khí năm 2008 thay thế bằng thuật ngữ "thu dọn", kéo theo các yêu cầu bắt buộc về quan trắc và ký quỹ phục hồi môi trường.

Thứ hai, các quy định kỹ thuật về kiểm soát chất thải ngoài khơi trong phụ lục Quy chế 1998 đã hoàn toàn lỗi thời khi đặt cạnh các quy chuẩn mới. Điển hình là việc ban hành QCVN 35:2010/BTNMT về nước khai thác thải và QCVN 36:2010/BTNMT về dung dịch khoan và mùn khoan thải. Trong khi MARPOL 73/78 cho phép hàm lượng dầu trong nước thải sàn nhiễm dầu ở mức dưới 15 mg/L, các quy định tạm thời trước đây tại Việt Nam lại chưa có sự phân định rõ ràng giữa nước thải sinh hoạt, nước sàn cơ giới và nước tách từ vỉa khai thác, gây lúng túng lớn cho các nhà điều hành giàn khoan biển.

Thứ ba, xuất hiện khoảng trống pháp lý nghiêm trọng đối với các lĩnh vực công nghiệp mới hình thành sau năm 1998. Hệ thống lọc hóa dầu với sự vận hành của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất (đáp ứng khoảng 30% nhu cầu xăng dầu toàn quốc), hai cụm nhà máy đạm Phú Mỹ và Cà Mau, cùng 4 nhà máy điện khí (Nhơn Trạch 1, 2 và Cà Mau 1, 2) đạt tổng công suất 2,7 tỷ kilowatt hoàn toàn chưa có quy định bảo vệ môi trường chuyên biệt trong Quy chế 1998. Bên cạnh đó, mạng lưới vận chuyển và tàng trữ với sức chứa kho bể của riêng Petrolimex vượt trên 1.000.000 mét khối cùng hơn 1.200 xe xitec cũng chưa được quy định cụ thể về ngưỡng phát thải hơi xăng dầu và các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các bất cập trên bắt nguồn từ tốc độ tăng trưởng kỹ thuật vượt bậc của ngành dầu khí Việt Nam khi mở rộng thăm dò ra 8 bể trầm tích với diện tích gần 1 triệu kilômét vuông, vượt xa tầm nhìn của các văn bản lập quy giai đoạn 1998.

Khi so sánh với quốc tế, tiêu chuẩn kiểm soát khí thải nhà máy lọc dầu của Việt Nam (QCVN 34:2010/BTNMT) chưa đưa ra mức giới hạn cho các kim loại nặng như Vanadium và Niken, đồng thời chưa yêu cầu hiệu suất đốt của hệ thống đuốc đốt đạt trên 95% như hướng dẫn của Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC). Đối với khí hydro sunfua (H2S), Việt Nam áp dụng giới hạn chung cho không khí xung quanh là 42 microgram trên mét khối theo QCVN 19:2009/BTNMT, trong khi Canada kiểm soát chặt chẽ ở mức 10 phần tỷ (ppb). Về mặt xử lý nước khai thác, các nước tiên tiến tại Biển Bắc và Australia đã luật hóa việc cho phép tái bơm ép nước thải xuống vỉa địa tầng sâu, giúp giảm 100% lượng xả thải trực tiếp ra đại dương và nâng cao hệ số thu hồi dầu, một giải pháp chưa từng được thừa nhận trong Quy chế 1998.

Toàn bộ các phát hiện và dữ liệu so sánh có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua một bảng ma trận đối chiếu 6 tiêu chí thể chế và một biểu đồ cột phân bổ tỷ lệ các điều khoản cần bãi bỏ, sửa đổi hoặc bổ sung mới. Biểu đồ này phản ánh trực quan sự cần thiết phải tái cấu trúc 100% khung quy chế để tiệm cận các thông lệ quốc tế tốt nhất.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, 4 nhóm giải pháp chiến lược kèm mục tiêu và lộ trình thực hiện cụ thể được đề xuất:

Thứ nhất, ban hành mới văn bản thay thế toàn diện dưới tên gọi Quy chế "Bảo vệ môi trường trong các hoạt động dầu khí", chuẩn hóa 100% thuật ngữ pháp lý và bãi bỏ các nội dung mâu thuẫn với Luật Bảo vệ môi trường và Luật Dầu khí. Mục tiêu đạt 100% sự đồng bộ với các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hiện hành. Thời gian hoàn thiện và trình duyệt: giai đoạn 2013–2014. Chủ thể thực hiện: Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp cùng Bộ Công Thương.

Thứ hai, thể chế hóa phương pháp xử lý chất thải tiến tiến bằng cách ban hành hướng dẫn kỹ thuật cho phép tái bơm ép nước khai thác và mùn khoan gốc tổng hợp vào các vỉa ngầm địa chất sâu. Mục tiêu giảm thiểu 100% lượng dầu khoáng xả ra môi trường biển tại các mỏ đủ điều kiện địa chất. Thời gian áp dụng thí điểm: 2014–2015. Chủ thể thực hiện: Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) và các nhà thầu khai thác mỏ.

Thứ ba, thiết lập tiêu chuẩn kỹ thuật kiểm soát hơi dầu thu hồi và khí thải hydro sunfua tại các tổng kho chứa dầu trên 50.000 mét khối và các nhà máy lọc hóa dầu, hướng đến mục tiêu đạt hiệu suất thu hồi hơi xăng dầu trên 95% tương đương chuẩn IFC. Thời gian triển khai: 2014–2016. Chủ thể thực hiện: Các doanh nghiệp chế biến và kinh doanh phân phối xăng dầu lớn như Petrolimex, PVN, Saigon Petro.

Thứ tư, hoàn thiện quy định bắt buộc về lập kế hoạch thu dọn công trình dầu khí biển và chương trình quan trắc môi trường trước, trong và sau thu dọn, đi kèm cơ chế ký quỹ phục hồi môi trường đạt tỷ lệ 100% giá trị dự toán. Thời gian ban hành: năm 2013. Chủ thể thực hiện: Bộ Công Thương, Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng các liên doanh dầu khí.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và sản phẩm của luận văn mang lại giá trị thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước bao gồm Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công Thương, Cục An toàn Môi trường và Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh ven biển (Bà Rịa – Vũng Tàu, Quảng Ngãi, Cà Mau). Luận văn cung cấp luận cứ khoa học để xây dựng, thẩm định và ban hành các thông tư, quy chế quản lý môi trường đặc thù ngành.

Thứ hai, ban lãnh đạo và cán bộ phụ trách công tác An toàn – Sức khỏe – Môi trường (SHE) tại các doanh nghiệp dầu khí như PVN, Vietsovpetro, Petrolimex, PTSC, BSR. Nhóm này có thể ứng dụng kết quả nghiên cứu để rà soát hệ thống quản trị rủi ro nội bộ, lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và xây dựng phương án kiểm soát xả thải chuẩn xác.

Thứ ba, các tổ chức tư vấn môi trường và nhà thầu dầu khí quốc tế đang hoạt động tại Việt Nam. Tài liệu giúp các nhà đầu tư nắm bắt nhanh chóng ma trận pháp lý, hiểu rõ sự khác biệt giữa quy định Việt Nam và chuẩn mực quốc tế như MARPOL 73/78 hay IFC, từ đó tối ưu hóa chi phí tuân thủ.

Thứ tư, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học thuộc các chuyên ngành Quản lý môi trường, Kỹ thuật dầu khí và Luật kinh tế. Công trình là nguồn tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận rà soát thể chế và kỹ thuật quản lý môi trường ngành công nghiệp khai khoáng biển.

Câu hỏi thường gặp

Hoạt động hoàn thiện quy chế có ý nghĩa như thế nào đối với các doanh nghiệp dầu khí đang vận hành tại Việt Nam? Việc thay thế Quy chế 1998 bằng dự thảo mới giúp loại bỏ hoàn toàn các xung đột pháp lý giữa các luật chuyên ngành. Doanh nghiệp có được hành lang pháp lý minh bạch, rõ ràng về tiêu chuẩn xả thải và quy trình báo cáo, giúp tiết kiệm thời gian phê duyệt hồ sơ môi trường và hạn chế tối đa nguy cơ bị xử phạt hành chính.

Điểm khác biệt căn bản trong quản lý nước khai thác thải giữa quy chế mới và quy định quốc tế là gì? Quy định Việt Nam căn cứ theo QCVN 35:2010/BTNMT phân vùng xả thải theo khoảng cách bờ và giới hạn hàm lượng dầu theo giá trị trung bình ngày. Trong khi đó, các tổ chức quốc tế áp dụng linh hoạt giới hạn theo trung bình tháng và đặc biệt khuyến khích giải pháp kỹ thuật tái bơm ép toàn bộ nước khai thác xuống tầng chứa ngầm sâu để bảo vệ tuyệt đối hệ sinh thái biển.

Dung dịch khoan và mùn khoan thải ngoài khơi được đề xuất quản lý theo nguyên tắc nào? Quy chế dự thảo quy định nghiêm cấm thải bỏ dung dịch khoan gốc dầu trực tiếp ra biển. Đối với dung dịch khoan và mùn khoan gốc tổng hợp, việc sử dụng và thải bỏ phải được cấp phép theo từng giếng khoan cụ thể, đồng thời nồng độ dầu bám dính trên mùn khoan thải phải được kiểm soát nghiêm ngặt theo ngưỡng quy định tại QCVN 36:2010/BTNMT trước khi xả ra môi trường.

Vì sao cần bổ sung quy định bảo vệ môi trường riêng cho hoạt động thu dọn công trình dầu khí? Thu dọn mỏ dầu khí là hoạt động phức tạp với nguy cơ rò rỉ hydrocacbon cao và phát sinh lượng lớn kim loại phế thải. Quy chế bổ sung yêu cầu bắt buộc lập phương án ứng phó rủi ro môi trường, kế hoạch quản lý chất thải nguy hại và tiến hành quan trắc chất lượng nước biển trước, trong và sau quá trình cắt tháo dỡ công trình ngoài khơi.

Các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu hạ nguồn chịu những ràng buộc môi trường mới nào trong đề xuất? Doanh nghiệp vận hành hệ thống kho cảng xăng dầu dung tích trên 1.000 mét khối và mạng lưới cửa hàng bán lẻ phải tuân thủ quy chuẩn nước thải theo QCVN 29:2010/BTNMT. Đồng thời, các cơ sở này phải lắp đặt hệ thống thu hồi hơi xăng dầu kín để giảm thiểu phát tán hợp chất hữu cơ dễ bay hơi ra khu dân cư xung quanh.

Kết luận

Công trình nghiên cứu đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu khoa học và thực tiễn đề ra thông qua các đóng góp trọng tâm sau:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và rà soát chi tiết toàn bộ 48 điều của Quy chế 1998 trước bức tranh thay đổi của hệ thống pháp luật môi trường giai đoạn 1998–2012.
  • Đối chiếu sâu sắc thực tiễn quản lý môi trường dầu khí Việt Nam với tiêu chuẩn quốc tế của 5 quốc gia tiên tiến và các tổ chức uy tín như IFC, IMO, WB.
  • Nhận diện chính xác các bất cập, khoảng trống pháp lý đối với các lĩnh vực mới như lọc hóa dầu, sản xuất đạm, điện khí và thu gom khí đồng hành.
  • Xây dựng thành công bản dự thảo Quy chế "Bảo vệ môi trường trong các hoạt động dầu khí" đáp ứng trọn vẹn 6 tiêu chí khoa học thể chế.
  • Đề xuất lộ trình 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và pháp lý mang tính đột phá nhằm nâng cao hiệu quả quản trị môi trường ngành dầu khí.

Về lộ trình tiếp theo, các cơ quan chức năng cần nhanh chóng tiến hành thẩm định bản dự thảo Quy chế trong giai đoạn 2013–2014 để sớm ban hành chính thức văn bản thay thế Quyết định số 395/1998/QĐ-BKHCNMT. Các đơn vị dầu khí cần chủ động rà soát, nâng cấp hệ thống xử lý nước khai thác và khí thải nhằm đáp ứng ngay các quy chuẩn mới. Hãy cùng chung tay hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực công nghệ để thúc đẩy ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam phát triển bền vững và thân thiện với môi trường.