Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về Quản trị tiền lƣơng. Chương 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 4 Chương 3: Thực trạng công tác Quản trị tiền lƣơng tại Công ty cổ phần Bia Hà Nội - Hải Dƣơng. Chương 4: Giải pháp hoàn thiện công tác Quản trị tiền lƣơng tại Công ty cổ phần Bia Hà Nội - Hải Dƣơng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ TIỀN LƢƠNG 1. Cơ sở lý luận về tiền lƣơng 1. Khái niệm về tiền công, tiền lương 1. Tiền lương Thu nhập của ngƣời lao động bao gồm: tiền lƣơng, phụ cấp, tiền thƣởng và phúc lợi.
Trong đó, tiền lƣơng chiếm tỷ trọng lớn nhất. Việc trả công lao động là một hoạt động quản trị nhân sự có ý nghĩa rất lớn trong việc giúp tổ chức đạt đƣợc hiệu suất cao cũng nhƣ tác động một cách tích cực đến đạo đức lao động của mọi ngƣời lao động. Do đó, các tổ chức cần quản trị có hiệu quả chƣơng trình tiền lƣơng, tiền công của mình vì kết quả của chƣơng trình đó có ý nghĩa đặc biệt lớn, ảnh hƣởng đến ngƣời lao và cả tổ chức. Có nhiều khái niệm khác nhau về tiền công, tiền lƣơng.
Trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, tiền lƣơng đƣợc hiểu là một bộ phận thu nhập quốc dân dùng để bù đắp hao phí lao động tất yếu do Nhà nƣớc phân phối cho công nhân viên chức bằng hình thức tiền tệ, phù hợp với quy luật phân phối theo lao động. Hiện nay, theo Điều 90, Chƣơng VI - Bộ luật Lao động năm 2012 quy định: “tiền lƣơng là khoản tiền mà ngƣời sử dụng lao động trả cho ngƣời lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận. Tiền lƣơng bao gồm mức lƣơng theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lƣơng và các khoản bổ sung khác. Mức lƣơng của ngƣời lao động không đƣợc thấp hơn mức lƣơng tối thiểu do Chính phủ quy định.
Tiền lƣơng trả cho ngƣời lao động căn cứ vào năng suất lao động và chất lƣợng công việc. Ngƣời sử dụng lao động phải bảo đảm trả lƣơng bình đẳng, không phân biệt giới tính đối với ngƣời lao động làm công việc có giá trị nhƣ nhau”. Theo đó, tiền lƣơng chính là giá cả sức lao động đƣợc hình thành qua thỏa thuận giữa ngƣời sử dụng sức lao động và ngƣời lao động phù hợp với quan hệ cung cầu sức lao động trong nền kinh tế thị trƣờng; là số lƣợng tiền tệ mà ngƣời sử dụng lao động trả cho ngƣời lao động khi họ hoàn thành công việc theo chức năng, nhiệm vụ đƣợc pháp luật quy định hoặc hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 6 Tiền công chỉ là một biểu hiện, một tên gọi khác của tiền lƣơng.
Tiền công gắn trực tiếp hơn với các quan hệ thỏa thuận mua bán sức lao động và thƣờng đƣợc sử dụng trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, dịch vụ, các hợp động dân sự thuê mƣớn lao động có thời hạn. Khái niệm tiền công đƣợc sử dụng phổ biến trong những thỏa thuận thuê nhân công trên thị trƣờng tự do và có thể gọi là giá công lao động. Từ các khái niệm trên cho thấy bản chất của tiền lƣơng là giá cả sức lao động đƣợc hình thành trên cơ sở giá trị sức lao động. Theo nghĩa rộng thì tiền lƣơng là một bộ phận của thu nhập quốc dân, căn cứ vào quy luật phân phối theo lao động mà ngƣời lao động nhận đƣợc bằng tiền mặt.
Thực chất tiền lƣơng là một bộ phận của giá trị lao động mà ngƣời lao động vừa mới sáng tạo ra, đƣợc dùng để bù đắp lại hao phí lao động cần thiết và một số nhu cầu khác của ngƣời lao động, đƣợc phân phối cho ngƣời lao động dƣới hình thức tiền tệ, theo một quy luật phân phối phụ thuộc vào chế độ kinh tế - xã hội nhất định. Liên quan đến khái niệm về tiền lƣơng, tiền công còn có một số khái niệm khác nhƣ: Tiền lƣơng tối thiểu: Theo Điều 91, Chƣơng VI - Bộ luật Lao động 2012, mức lƣơng tối thiểu đƣợc quy định “là mức thấp nhất trả cho ngƣời lao động làm công việc giản đơn nhất, trong điều kiện lao động bình thƣờng và phải bảo đảm nhu cầu sống tối thiểu của ngƣời lao động và gia đình họ. Mức lƣơng tối thiểu đƣợc xác định theo tháng, ngày, giờ và đƣợc xác lập theo vùng, ngành”. “Căn cứ vào nhu cầu sống tối thiểu của ngƣời lao động và gia đình họ, điều kiện kinh tế - xã hội và mức tiền lƣơng trên thị trƣờng lao động, Chính phủ công bố mức lƣơng tối thiểu vùng trên cơ sở khuyến nghị của Hội đồng tiền lƣơng quốc gia”.
Trong khi đó, mức lƣơng tối thiểu ngành đƣợc xác định thông qua thƣơng lƣợng tập thể ngành, đƣợc ghi trong thỏa ƣớc lao động tập thể ngành nhƣng không đƣợc thấp hơn mức lƣơng tối thiểu vùng do Chính phủ công bố. Mức lƣơng tối thiểu đƣợc pháp luật bảo vệ, đƣợc xác định ứng với trình độ lao động giản đơn nhất, tƣơng ứng với cƣờng độ lao động nhẹ nhàng nhất trong điều kiện lao động bình thƣờng, đảm bảo nhu cầu tiêu dùng ở mức độ tối thiểu cần thiết và tƣơng ứng với giá tƣ liệu sinh hoạt chủ yếu ở vùng có mức giá trung bình. Mức lƣơng tối thiểu là cơ sở là nền tảng để xác định mức lƣơng trả cho các loại lao Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 7 động khác, thực hiện chính sách BHXH và tính trợ cấp xã hội. Nó còn là công cụ để nhà nƣớc quản lý và kiểm tra việc trao đổi mua bán sức lao động.
Mức lƣơng tối thiểu còn nhằm điều tiết thu nhập giữa các thành phần kinh tế. Khi chỉ số giá cả sinh hoạt tăng lên làm cho tiền lƣơng thực tế của ngƣời lao động giảm sút thì Chính phủ điều chỉnh mức lƣơng tối thiểu để đảm bảo tiền lƣơng thực tế. Tiền lƣơng cơ sở: Mức lƣơng cơ sở dùng làm căn cứ để tính mức lƣơng trong các bảng lƣơng, mức phụ cấp và thực hiện các chế độ khác theo quy định của pháp luật đối với các đối tƣợng theo quy định. Đồng thời, lƣơng cơ sở cũng đƣợc dùng làm căn cứ tính mức hoạt động phí theo quy định, tính các khoản trích và các chế độ đƣợc hƣởng theo mức lƣơng cơ sở.
Nhƣ vậy, do hiện nay quy định về mức lƣơng “tối thiểu chung” dùng để tính các mức lƣơng khác và các khoản phụ cấp lƣơng không còn quy định trong Bộ Luật Lao động năm 2012 nên khái niệm lƣơng tối thiểu sẽ thay bằng “mức lƣơng cơ sở” (là mức lƣơng thấp nhất) để làm căn cứ tính tiền lƣơng ngạch, bậc, chức vụ, cấp hàm và các loại phụ cấp lƣơng đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lƣợng vũ trang. Tiền lƣơng danh nghĩa: Là số lƣợng tiền mà ngƣời lao động nhận đƣợc khi họ hoàn thành một khối lƣợng công việc nhất định. Tiền lƣơng thực tế: Cùng một khối lƣợng tiền tệ nhƣng ở những thời điểm khác nhau hay vùng địa lý khác nhau thì khối lƣợng hàng hóa hay dịch vụ mua đƣợc cũng có thể khác nhau. Nhƣ vậy tiền lƣơng thực tế là khối lƣợng hàng hóa hay dịch vụ mà ngƣời lao động nhận đƣợc thông qua tiền lƣơng danh nghĩa.
Có nhiều thuật ngữ đƣợc sử dụng để nói về sự trả lƣơng cho lao động hoặc dịch vụ. Công ƣớc 100 của ILO sử dụng thuật ngữ tiền thù lao để nói về tiền lƣơng nhƣ một khoản thù lao đƣợc trả trực tiếp hay gián tiếp, bằng tiền mặt hoặc dƣới dạng khác do ngƣời sử dụng lao động trả trực tiếp cho ngƣời lao động và phát sinh từ sự thuê mƣớn ngƣời lao động. Mối quan tâm đến vấn đề này ngày càng tăng vì số ngƣời làm việc vì tiền lƣơng và sống nhờ vào tiền lƣơng ngày càng tăng. Tiền lƣơng đƣợc coi nhƣ một khoản chi phí cho đầu tƣ.
Đầu tƣ đúng vào nguồn nhân công chất lƣợng là một đảm bảo cho sự thành công. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 8 Tiền lƣơng có một số đặc trƣng nhƣ sau: mức tăng của tiền lƣơng đƣợc quyết định bởi các phƣơng tiện sống khách quan cần thiết cho tái sản xuất sức lao động cả về số lƣợng và chất lƣợng phù hợp với nhu cầu phát triển xã hội; tiền lƣơng có khuynh hƣớng tăng lên không ngừng bởi vì bản thân giá trị sức lao động tăng lên không ngừng và nhịp độ phát triển của tiền lƣơng phải chậm hơn so với nhịp độ phát triển kinh tế bởi quy luật phát triển tích lũy của tƣ bản nghiêng về phần cố định đảm bảo cho tái sản xuất mở rộng. Mục tiêu của hệ thống tiền lương 1. Hợp pháp Hệ thống thù lao của bất kỳ doanh nghiệp, tổ chức nào cũng phải tuân thủ theo đúng các điều khoản của Bộ luật Lao động của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (về tiền lƣơng tối thiểu, tiền lƣơng ngày lễ, làm ban đêm…).
Thỏa đáng Hệ thống tiền lƣơng, thƣởng của doanh nghiệp phải đủ lớn để thu hút và gìn giữ lao động có chất lƣợng cao vào làm việc vì sự hoàn thành công việc của họ có vai trò rất quan trọng trong việc đạt đƣợc các mục tiêu đã đề ra của tổ chức, giúp tổ chức phát triển và cạnh tranh đƣợc trên thị trƣờng. Có tác dụng kích thích Hệ thống tiền lƣơng, thƣởng của doanh nghiệp phải có tác dụng tạo động lực và kích thích ngƣời lao động hoàn thành công việc với hiệu quả và năng suất, chất lƣợng cao; khuyến khích họ phấn đấu, nỗ lực trong công việc, học tập nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề… 1. Công bằng Nếu nhƣ hệ thống tiền lƣơng, thƣởng của doanh nghiệp không công bằng sẽ triệt tiêu động lực lao động, có thể phát sinh các mâu thuẫn trong nội bộ tổ chức. Công bằng ở đây bao gồm cả công bằng bên trong và bên ngoài tổ chức.
Công bằng bên trong nghĩa là với những công việc khác nhau phải đƣợc trả mức tiền công/tiền lƣơng khác nhau; các công việc giống nhau, có yêu cầu về mức độ phức tạp, trình độ lành nghề giống nhau thì mức tiền công, tiền lƣơng nhận đƣợc nhƣ nhau. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 9 Công bằng bên ngoài là mức tiền công, tiền lƣơng tƣơng tự nhau khi so sánh với cùng một công việc trong tổ chức mình với tổ chức khác trên cùng địa bàn. Nếu thấp hơn, tổ chức đó khó có thể thu hút và giữ chân các lao động có trình độ tay nghề cao.