Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro của Công ty Cổ phần sản xuất nhựa Thuận Thành" do sinh viên Nguyễn Thị Nhung (lớp K54A5, MSV: 18D100275) thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Đào Hồng Hạnh tại Khoa Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Thương mại (Hà Nội, 2021).
Bối cảnh thực tiễn được tác giả nêu rõ xuất phát từ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và công nghiệp hóa - hiện đại hóa tại Việt Nam, kéo theo sự gia nhập ồ ạt của các doanh nghiệp và khiến môi trường kinh doanh ngày càng gay gắt. Riêng trong ngành nhựa, các doanh nghiệp vừa phải đối mặt với áp lực cạnh tranh trực tiếp từ hơn 4.000 doanh nghiệp trong nước, vừa chịu áp lực lớn từ sự xuất hiện của các sản phẩm thay thế nhằm đáp ứng lối sống xanh, giảm thiểu rác thải nhựa. Trong khi đó, tương tự phần lớn doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam, Công ty Cổ phần sản xuất nhựa Thuận Thành chưa quan tâm đúng mức tới công tác quản trị rủi ro. Sau 4 tuần thực tập và tìm hiểu sâu hoạt động sản xuất kinh doanh tại đơn vị, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu này.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận:
- Mục tiêu tổng quát: Đề xuất giải pháp hoàn thiện nội dung công tác quản trị rủi ro tại Công ty Cổ phần sản xuất nhựa Thuận Thành.
- Ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về công tác quản trị rủi ro trong doanh nghiệp.
- Phân tích và đánh giá thực trạng quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần sản xuất nhựa Thuận Thành giai đoạn 2018–2020.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tại Công ty Cổ phần sản xuất nhựa Thuận Thành trong 5 năm tới (giai đoạn 2021–2026).
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng công tác quản trị rủi ro tại Công ty Cổ phần sản xuất nhựa Thuận Thành.
- Phạm vi không gian: Công ty Cổ phần sản xuất nhựa Thuận Thành, địa chỉ tại Cụm công nghiệp Trí Quả, xã Trí Quả, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
- Phạm vi thời gian: Đánh giá dữ liệu thực trạng hoạt động kinh doanh và quản trị rủi ro từ năm 2018 đến năm 2020; các giải pháp định hướng đề xuất áp dụng cho giai đoạn 2021–2026.
- Phạm vi nội dung: Các khâu chuyên môn cấu thành quy trình quản trị rủi ro của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên việc hệ thống hóa quan điểm về rủi ro và quản trị rủi ro của nhiều học giả trong nước và quốc tế. Tác giả trích dẫn quan niệm của Alan H. Willent (1951) ("rủi ro là sự không chắc chắn về tổn thất"), John Haynes (1995) và Irving Pfeffer (1956) ("rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất"), Frank Knight (1997) ("rủi ro là sự xảy ra không chắc chắn có thể đo lường được"). Về quản trị rủi ro, tác giả tham chiếu định nghĩa của Nguyễn Quang Thu (2008), Đoàn Thị Hồng Vân và cộng sự (2013), Olaf Passenhein (2010) và tập trung khai thác khung lý thuyết của Trần Hùng (2017) với mô hình quản trị rủi ro 4 giai đoạn chuẩn hóa:
- Nhận dạng rủi ro: Xác định có hệ thống các nguy cơ về tài sản, nguồn nhân lực và trách nhiệm pháp lý dựa trên môi trường vĩ mô, vi mô và nội bộ.
- Phân tích rủi ro: Nghiên cứu hiểm họa, nguyên nhân (con người, kỹ thuật) và tổn thất thông qua phương pháp xác suất thống kê, ma trận tần suất - biên độ, cảm quan, chuyên gia và xếp hạng nhân tố.
- Kiểm soát rủi ro: Thực hiện các biện pháp né tránh, chuyển giao, giảm thiểu, chấp nhận, phân tán và chia sẻ rủi ro.
- Tài trợ rủi ro: Tự tài trợ hoặc chuyển giao tài trợ rủi ro qua bảo hiểm và hợp đồng, xây dựng kế hoạch phục hồi 5 giai đoạn.
Nghiên cứu sử dụng kết hợp dữ liệu sơ cấp và thứ cấp với các phương pháp thu thập và xử lý cụ thể:
- Dữ liệu sơ cấp:
- Phương pháp điều tra bảng hỏi: Phiếu điều tra gồm 2 phần (thông tin cá nhân và 17 câu hỏi chuyên môn về quản trị rủi ro). Tác giả tiến hành phát 30 phiếu điều tra từ ngày 02/11/2021 đến ngày 15/11/2021 tới cán bộ nhân viên các phòng Kinh doanh, Kế toán, Hành chính, Kỹ thuật và xưởng sản xuất; thu về 30 phiếu hợp lệ (mẫu $n = 30$).
- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp: Bộ câu hỏi gồm 15 câu, tiến hành ngày 17/11/2021 tại công ty. Khung giờ 14h–15h phỏng vấn Ban Giám đốc gồm Giám đốc Nguyễn Hoàng Yến, Phó Giám đốc kinh doanh Nguyễn Quang Hà, Phó Giám đốc kỹ thuật Nguyễn Văn Dương. Khung giờ 15h–17h phỏng vấn 5 cán bộ quản lý: Trưởng phòng Kinh doanh Hoàng Hải Đăng, Trưởng phòng Hành chính Nguyễn Trung Kiên, Trưởng phòng Kế toán Nguyễn Thị Phương Dung, Trưởng phòng Kỹ thuật Nguyễn Hữu Tuấn, Trưởng ca sản xuất Trần Gia Huy.
- Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 3 năm (2018–2020), tài liệu chuyên môn nội bộ của phòng Kinh doanh và Kế toán; tổng quan các công trình nghiên cứu đi trước của Phạm Thị Thúy Hằng (2015), Đoàn Thị Duyên (2016), Nguyễn Thị Phương Loan (2016), Lê Thị Quỳnh (2017), Đoàn Yến Ly (2020).
- Phương pháp xử lý dữ liệu: Phương pháp mô hình hóa biểu bảng, lượng hóa bằng công cụ Word và Excel, phân tích thống kê mô tả, so sánh tuyệt đối và tương đối giữa các năm.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số lý luận cơ bản về quản trị rủi ro trong kinh doanh của doanh nghiệp
Chương đầu tiên tập trung chuẩn hóa hệ thống khái niệm, vai trò và quy trình quản trị rủi ro tác nghiệp. Tác giả phân loại rủi ro kinh doanh theo 6 giác độ:
- Rủi ro sự cố và rủi ro cơ hội;
- Rủi ro thuần túy và rủi ro suy đoán;
- Rủi ro có thể phân tán và không thể phân tán;
- Rủi ro theo các giai đoạn phát triển doanh nghiệp (khởi sự, trưởng thành, suy vong);
- Rủi ro do môi trường kinh doanh (vĩ mô: chính trị, kinh tế, pháp lý, văn hóa, xã hội, công nghệ, tự nhiên; vi mô: khách hàng, nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh, cơ quan quản lý công);
- Rủi ro theo chiều dọc (chức năng chuyên môn) và chiều ngang (bộ phận nhân sự, tài chính, marketing, R&D).
Tác giả đi sâu vào nội dung 4 khâu của quy trình quản trị rủi ro theo Trần Hùng (2017), phân tích nguyên tắc kiểm soát rủi ro dựa trên tương quan chi phí - lợi ích, tính pháp lý và chuẩn mực đạo đức xã hội. Chương 1 cũng làm rõ các nhân tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng tới công tác nhận dạng, phân tích rủi ro, nhấn mạnh đặc thù ngành nhựa Việt Nam hiện có trên 4.000 doanh nghiệp đang cạnh tranh gay gắt cùng áp lực lớn về tiêu chuẩn môi trường.
Chương 2: Phân tích và đánh giá công tác quản trị rủi ro của Công ty Cổ phần sản xuất nhựa Thuận Thành
Chương 2 trình bày tổng quan về doanh nghiệp (thành lập ngày 15/04/2016, Giấy phép kinh doanh số 2300943376 do Sở KH&ĐT tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 20/07/2016, Giám đốc đại diện pháp luật là bà Nguyễn Thị Hoàng Yến). Năm 2018, công ty đầu tư dây chuyền sản xuất đồng bộ, tập trung vào sản phẩm bao bì nhựa PET, PE, HDPE, PP (chủ lực là phôi - chai PET, chai - can HDPE).
Tác giả tổng hợp kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2018–2020 thông qua số liệu phòng Kế toán:
| Chỉ tiêu |
Năm 2018 (Tr.VND) |
Năm 2019 (Tr.VND) |
Năm 2020 (Tr.VND) |
Chênh lệch 2019/2018 (%) |
Chênh lệch 2020/2019 (%) |
| Doanh thu thuần |
11.622,06 |
11.959,10 |
8.337,04 |
+2,83% |
-29,00% |
| Giá vốn hàng bán |
10.581,71 |
10.918,75 |
7.506,48 |
+3,18% |
-30,55% |
| Lợi nhuận gộp |
1.040,35 |
1.040,35 |
830,56 |
0,00% |
-20,17% |
| Lợi nhuận thuần từ HĐKD |
57,24 |
65,34 |
-20,71 |
+14,16% |
-131,69% |
| Lợi nhuận sau thuế |
53,52 |
65,34 |
-36,98 |
+22,08% |
-156,59% |
Dữ liệu cho thấy năm 2020 doanh nghiệp gặp khủng hoảng nặng do Covid-19 làm đứt gãy chuỗi cung ứng, doanh thu sụt giảm 29%, lợi nhuận sau thuế rơi từ mức dương 65,34 triệu đồng xuống âm 36,98 triệu đồng.
Về công tác quản trị rủi ro thực tế:
- Nhận dạng rủi ro: Công ty chủ yếu dựa vào bảng liệt kê sự kiện phát sinh từ thực tế tác nghiệp. Các rủi ro thường trực gồm: nguyên liệu đầu vào (phụ thuộc nhập khẩu tới 80%, chi phí hạt nhựa chiếm 70% giá thành sản phẩm), biến động tỷ giá USD/VND, an toàn lao động trong môi trường gia nhiệt độc hại, gián đoạn giao hàng, rủi ro khách hàng hủy đơn và biến động nhân sự (hơn 50 lao động nghỉ việc trong 3 năm 2018–2020).
- Phân tích và đo lường rủi ro: Kết quả khảo sát cho thấy có 8/30 ý kiến nhân viên (chiếm 26,67%) đánh giá khâu phân tích rủi ro của công ty còn yếu. Tác giả tổng hợp ma trận đo lường tần suất (IPF từ 1 đến 5) và mức độ hậu quả (IPI từ 1 đến 5):
- Nhóm rủi ro cao: Đối thủ cạnh tranh (tần suất 3, biên độ 5) và Chất lượng sản phẩm (tần suất 4, biên độ 4 - do bao bì dễ móp méo khi lưu kho, vận chuyển).
- Nhóm rủi ro trung bình: Khách hàng (tần suất 5, biên độ 2), Nhân lực (tần suất 4, biên độ 3), Nguồn cung ứng (tần suất 1, biên độ 5).
- Nhóm rủi ro thấp: Biến động tỷ giá hối đoái (tần suất 2, biên độ 1).
- Kiểm soát và tài trợ rủi ro: Doanh nghiệp áp dụng quy trình kiểm định chất lượng theo ISO 9001:2015 và ISO 14001:2015. Biện pháp kiểm soát đối với đơn hàng lỗi là gửi bù hàng kèm phiếu giảm giá; phòng ngừa rủi ro nhân sự bằng quy định báo trước 1 tháng; soi đèn kiểm tra bọt khí chai nhựa trước khi xuất xưởng. Về tài trợ, công ty duy trì quỹ dự phòng rủi ro ở mức rất nhỏ: 300.000 đồng (năm 2019) và 500.000 đồng (năm 2020); tổ chức khám sức khỏe 6 tháng/lần qua Bệnh viện Đa khoa Hoàn Mỹ; cài cắm điều khoản phạt 7% giá trị hợp đồng khi đối tác đơn phương chấm dứt hợp đồng thương mại.
- Đánh giá tồn tại: Doanh nghiệp chưa lập bộ phận quản trị rủi ro chuyên trách; nhân sự kiêm nhiệm thiếu chuyên môn; bảng liệt kê rủi ro sơ sài; giải pháp ứng phó mang tính chắp vá, thụ động; Ban Giám đốc phản ứng còn chậm; việc theo dõi mới chỉ dừng ở nội bộ mà chưa quan sát các đối thủ cùng ngành.
Chương 3: Đề xuất và kiến nghị về công tác quản trị rủi ro của Công ty Cổ phần sản xuất nhựa Thuận Thành
Dựa trên mục tiêu sản xuất kinh doanh giai đoạn mới (đảm bảo mức tăng trưởng lợi nhuận 25%/năm, mở rộng kênh phân phối ngoài tỉnh Bắc Ninh, nâng cấp cơ sở vật chất, bảo đảm việc làm cho công nhân viên), tác giả xác lập 2 quan điểm chỉ đạo:
- Quan điểm 1: Sử dụng linh hoạt và hiệu quả các biện pháp kiểm soát rủi ro, kết hợp phòng ngừa với duy trì cơ hội kinh doanh.
- Quan điểm 2: Nâng cao vị thế và năng lực của nhà quản trị trong chỉ đạo điều hành công tác quản trị rủi ro.
Các định hướng giải pháp được đề xuất bao gồm:
- Kiện toàn bộ máy quản lý, đào tạo kỹ năng văn phòng và an toàn lao động, phòng cháy chữa cháy;
- Triển khai định kỳ hàng quý phiếu khảo sát tâm tư nguyện vọng của công nhân viên nhằm phát hiện rủi ro nội bộ từ sớm;
- Đầu tư máy móc hiện đại nhằm hạ thấp tỷ lệ chai lỗi, khắc phục hiện tượng biến dạng sản phẩm trong lưu kho;
- Thiết lập quy trình phản ứng nhanh và quỹ dự phòng tài chính có quy mô tương xứng hơn với biến động doanh thu;
- Kiến nghị cơ quan nhà nước hoàn thiện chính sách hỗ trợ vốn, bình ổn thị trường nguyên liệu và tạo hành lang pháp lý minh bạch cho các doanh nghiệp nhựa vừa và nhỏ.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể gắn liền với số liệu trích xuất từ thực tế:
- Khắc họa bức tranh tài chính đầy đủ của Công ty Nhựa Thuận Thành qua chuỗi 3 năm 2018–2020, phản ánh tác động tiêu cực của dịch Covid-19 khiến doanh thu giảm 29% và lợi nhuận sau thuế năm 2020 rơi xuống mức âm 36,98 triệu đồng.
- Định lượng hóa mức độ rủi ro thông qua khảo sát thực nghiệm 30 cán bộ nhân viên, chỉ ra 26,67% đánh giá khâu phân tích rủi ro còn yếu kém; xây dựng thành công bảng ma trận rủi ro phân định rõ nhóm rủi ro cao (đối thủ cạnh tranh, chất lượng sản phẩm), rủi ro trung bình (khách hàng, nhân lực, nguồn cung ứng) và rủi ro thấp (tỷ giá).
- Vạch rõ thực trạng tài trợ rủi ro còn mang tính hình thức với số liệu quỹ dự phòng năm 2019 chỉ đạt 300.000 đồng và năm 2020 đạt 500.000 đồng, cùng điều khoản phạt 7% hợp đồng thương mại.
- Đóng góp khoa học: Tác giả tự khẳng định đây là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu về công tác quản trị rủi ro tại Công ty Cổ phần sản xuất nhựa Thuận Thành, không trùng lặp với các đề tài khóa luận trước đó tại Đại học Thương mại, cung cấp cơ sở thực tiễn cho ban lãnh đạo công ty tái cấu trúc quy trình ứng phó rủi ro.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số hạn chế do tác giả tự thừa nhận hoặc rút ra từ phạm vi nghiên cứu:
- Thời gian nghiên cứu và thực tập tại doanh nghiệp tương đối ngắn (chỉ kéo dài 4 tuần), trình độ nghiên cứu của sinh viên bước đầu còn hạn chế.
- Mẫu điều tra khảo sát định lượng còn hẹp ($n = 30$ phiếu), tập trung nội bộ trong các phòng ban và phân xưởng tại Bắc Ninh nên tính đại diện chưa cao cho toàn ngành nhựa.
- Nguồn số liệu hoạt động kinh doanh giai đoạn 2018–2020 trùng với thời điểm bùng phát dịch bệnh bất thường, làm sai lệch một số chỉ tiêu kinh doanh thông thường.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng phạm vi khảo sát ra các đối tác khách hàng, nhà cung ứng ngoài tỉnh; thu thập chuỗi số liệu tài chính trong điều kiện bình thường mới (sau năm 2020) và xây dựng bộ tiêu chí định lượng chi tiết hơn cho từng rủi ro kỹ thuật sản xuất nhựa.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Sinh viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Quản trị rủi ro tại các trường đại học khối kinh tế: Tham khảo khung cấu trúc một bài khóa luận định hướng ứng dụng thực tế, quy trình xây dựng bảng hỏi (Phụ lục 1) và phỏng vấn sâu cán bộ quản lý (Phụ lục 2).
- Các nhà nghiên cứu, sinh viên thực hiện đề tài về doanh nghiệp vừa và nhỏ: Kế thừa phương pháp kết hợp tiêu chuẩn ISO 9001:2015 vào xây dựng bảng liệt kê nhận diện rủi ro và thiết lập ma trận tần suất - biên độ rủi ro.
- Ban lãnh đạo và cán bộ quản lý tại các doanh nghiệp sản xuất nhựa vừa và nhỏ ở khu vực phía Bắc: Tham khảo bức tranh thực tế về các điểm nghẽn rủi ro (lệ thuộc 80% nguyên liệu nhập khẩu, tỷ lệ hỏng móp bao bì, biến động nhân sự công nhân) để thiết lập các chốt kiểm soát quy trình phù hợp.
Câu hỏi thường gặp
1. Mẫu khảo sát và quy trình thu thập dữ liệu sơ cấp của khóa luận được tiến hành như thế nào?
Tác giả đã phát 30 phiếu điều tra trắc nghiệm (mỗi phiếu gồm phần thông tin cá nhân và 17 câu hỏi chuyên môn) tới nhân sự tại 5 bộ phận: phòng Kinh doanh, phòng Kế toán, phòng Hành chính, phòng Kỹ thuật và Xưởng sản xuất từ ngày 02/11/2021 đến ngày 15/11/2021, thu về 30 phiếu hợp lệ. Ngoài ra, tác giả phỏng vấn sâu 8 cán bộ vào ngày 17/11/2021: buổi chiều từ 14h–15h phỏng vấn 3 lãnh đạo (Giám đốc, 2 Phó Giám đốc) và từ 15h–17h phỏng vấn 5 Trưởng phòng/Trưởng ca.
2. Hai loại rủi ro nào được xác định có biên độ và tần suất thuộc nhóm rủi ro cao nhất tại công ty?
Dựa trên ma trận phân tích rủi ro, hai rủi ro thuộc nhóm cao là: Đối thủ cạnh tranh (tần suất điểm 3, biên độ điểm 5 - do áp lực từ hơn 4.000 doanh nghiệp trong ngành và nguy cơ bị đối thủ chiếm thị phần) và Chất lượng sản phẩm (tần suất điểm 4, biên độ điểm 4 - do đặc thù bao bì can, chai nhựa dễ bị bóp méo khi bốc xếp, lưu kho và vận chuyển, làm giảm uy tín doanh nghiệp).
3. Kết quả kinh doanh của công ty trong 3 năm 2018–2020 biến động ra sao?
Doanh thu thuần năm 2018 đạt 11.622,06 triệu đồng; năm 2019 tăng nhẹ lên 11.959,10 triệu đồng (tăng 2,83%). Sang năm 2020 do ảnh hưởng đại dịch Covid-19, doanh thu giảm xuống 8.337,04 triệu đồng (giảm 29,00%). Lợi nhuận sau thuế năm 2018 đạt 53,52 triệu đồng, năm 2019 đạt 65,34 triệu đồng (tăng 22,08%), nhưng năm 2020 sụt giảm nghiêm trọng xuống mức lỗ -36,98 triệu đồng (giảm 156,59%).
4. Doanh nghiệp áp dụng các biện pháp tài trợ rủi ro cụ thể nào trong thực tế?
Công ty sử dụng quỹ dự phòng nội bộ (năm 2019 lập 300.000 đồng, năm 2020 lập 500.000 đồng), mua bảo hiểm nhân thọ và tai nạn lao động cho nhân viên, định kỳ 6 tháng tổ chức khám sức khỏe qua Bệnh viện Đa khoa Hoàn Mỹ. Đồng thời, công ty chuyển giao rủi ro hợp đồng bằng điều khoản kiểm nhận hàng tại kho (ra khỏi kho bên bán hết trách nhiệm) và phạt 7% giá trị hợp đồng nếu đối phương tự ý hủy bỏ giao dịch.
5. Hạn chế lớn nhất trong cơ cấu tổ chức quản trị rủi ro tại Công ty Nhựa Thuận Thành là gì?
Hạn chế lớn nhất là công ty hoàn toàn chưa thành lập phòng ban hoặc bố trí vị trí nhân sự chuyên trách về quản trị rủi ro. Công việc nhận diện, theo dõi rủi ro chủ yếu do nhân viên các bộ phận tự kiêm nhiệm và đề xuất lên Ban Giám đốc khi phát sinh sự cố, dẫn đến tình trạng xử lý bị động, chắp vá và thiếu tính dự báo chiến lược.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Nhung đã hoàn thành các nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, hệ thống hóa khung lý luận quản trị rủi ro và phản ánh chân thực thực trạng tác nghiệp tại Công ty Cổ phần sản xuất nhựa Thuận Thành giai đoạn 2018–2020. Tác giả đã kết hợp số liệu tài chính với phương pháp khảo sát 30 cán bộ nhân viên và phỏng vấn trực tiếp ban lãnh đạo nhằm lượng hóa ma trận rủi ro thực tế của doanh nghiệp bao bì nhựa. Các giải pháp đề xuất giai đoạn 2021–2026 bám sát vào việc khắc phục tình trạng thiếu nhân sự chuyên trách, củng cố năng lực kiểm soát chất lượng và hoàn thiện quỹ tài trợ rủi ro. Công trình là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn tốt cho sinh viên quản trị kinh doanh và các nhà quản lý doanh nghiệp sản xuất vừa và nhỏ.