Chương 1. Cơ sở lý thuyết về quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay ngắn hạn của Ngân hàng Thương mại. Thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay ngắn hạn tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam CN KCN Phú Tài. Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay ngắn hạn tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam CN KCN Phú Tài.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY NGẮN HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Rủi ro tín dụng trong vay ngắn hạn của ngân hàng thương mại 1. Khái quát cho vay ngắn hạn Khái niệm Cho vay ngắn hạn là một loại cho vay nhằm hỗ trợ nhu cầu vốn kinh doanh hoặc cá nhân tạm thời. Vì nó là một loại tín dụng, nó bao gồm việc hoàn trả số tiền chính với lãi suất vào một ngày đến hạn nhất định, thường là trong vòng một năm kể từ khi nhận được khoản vay [20].
Khoản vay ngắn hạn là một lựa chọn có giá trị, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp nhỏ hoặc các công ty mới thành lập chưa đủ điều kiện vay hạn mức tín dụng từ ngân hàng. Các khoản vay ngắn hạn không chỉ phù hợp cho các doanh nghiệp mà còn cho các cá nhân gặp khó khăn về dòng tiền tạm thời, đột ngột [19]. Các khoản cho vay ngắn hạn được định nghĩa là các khoản vay được thực hiện trong một thời gian ngắn để đáp ứng các yêu cầu tiền tệ tức thời. Ví dụ, các công ty thường vay các khoản vay ngắn hạn bằng cách sử dụng thấu chi ngân hàng để thu xếp tiền cho các nhu cầu vốn lưu động [13].
Thời hạn cho vay thay đổi tùy theo loại nợ. Ví dụ, nhiều khoản vay đáo hạn trong 6-12 tháng. Một khoản vay ngắn hạn hoạt động như một cứu cánh khi mọi người cần một số tiền gấp. Ví dụ, một doanh nghiệp không thể tài trợ cho các đơn đặt hàng hàng ngày của mình nếu tất cả con nợ đang trì hoãn các khoản thanh toán.
Các ngân hàng cung cấp nhiều phương tiện cho vay ngắn hạn cho các doanh nghiệp để trang trải các chi phí hàng ngày của họ. Các khoản vay này có nhiều hình dạng và kích cỡ khác nhau. Người ta có thể nhận một khoản vay ngắn hạn từ các ngân hàng, tổ chức tài chính và nhà cung cấp. Người vay có thể đăng ký các khoản vay ngắn hạn trực tuyến hoặc đến chi nhánh.
Người cho vay kiểm tra người xin vay tín nhiệm, thảo luận về các điều khoản, hoàn thành thủ tục giấy tờ và phát hành tiền sau khi được chấp thuận [19]. Đặc điểm của cho vay ngắn hạn Tỷ lệ phần trăm hàng năm (APR) hoặc lãi suất thường được đặt thấp vì chi phí đầu vào thấp hơn. Thông thường, thời hạn sử dụng là dưới một năm. Đối với các khoản vay tiêu dùng có giá trị thấp, các bên cho vay tính lãi suất cao hơn để bù đắp cho khoản lỗ có thể xảy ra vỡ nợ vì các khoản vay này chủ yếu là 8 không có thế chấp vì vậy không có tài sản nào có thể được bán để thu hồi nếu con nợ không trả được nợ.
Vì nhiều người cho vay không yêu cầu tài sản thế chấp, họ yêu cầu người vay phải có điểm tín dụng tốt để đảm bảo mức độ tín nhiệm của họ để hoàn trả đúng hạn. Ngoài ra, số tiền vay thường nhỏ so với các hình thức cho vay trung và dài hạn. Cả gốc và lãi cần phải được hoàn trả đầy đủ trong thời hạn của khoản vay. Nhiều người có lịch trả nợ hàng tuần.
Nhiều người đi vay thích các khoản vay ngắn hạn từ một người cho vay trực tiếp mà loại bỏ bất kỳ trung gian nào như môi giới tín dụng. Sự chậm trễ từ phía người môi giới có thể trì hoãn khoản vay của người nộp đơn. Ngoài ra, việc cho vay trực tiếp đối với các khoản vay ngắn hạn thường đi kèm với các tiện ích trực tuyến, việc phê duyệt và xử phạt khoản vay nhanh hơn. Do đó, trong giai đoạn dịch bệnh Covid-19, những người cho vay trực tiếp có nhu cầu rất lớn.
Các loại cho vay ngắn hạn Phân loại theo đối tượng khách hàng - Cho vay Chính phủ: Là hoạt động cho vay đối với Nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi thường xuyên và phục vụ cho các mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia. - Cho vay doanh nghiệp: Là hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn kinh doanh và đầu tư. - Cho vay cá nhân: Là hoạt động cho vay đối với khách hàng là các cá nhân nhằm phục vụ cho các nhu cầu kinh doanh hoặc tiêu dùng. - Cho vay các tổ chức tài chính khác như: Ngân hàng, công ty tài chính, quỹ tín dụng…nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản.
Phân loại theo mức độ tín nhiệm của khách hàng - Cho vay bảo đảm bằng tài sản: là loại cho vay dựa trên cơ sở các tài sản bảo đảm (thế chấp, cầm cố) của khách hàng vay hoặc bên thứ ba. Các tài sản dùng bảo đảm nợ vay phải hội tụ đủ các điều kiện về tính thị trường, ổn định. Có các hình thức cho vay bảo đảm bằng tài sản như bảo đảm bằng các chứng khoán (giấy tờ có giá), bằng hợp đồng thầu khoán, bằng vật tư hàng hóa, bằng bất động sản. - Cho vay bảo đảm không bằng tài sản: là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố mà chỉ dựa vào uy tín và năng lực tài chính của bản thân khách hàng vay vốn hoặc bên bảo lãnh để quyết định cho vay.
Phân loại theo phương thức cho vay 9 - Cho vay thấu chi: Là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay được chi trội trên số dư tài khoản tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong một khoảng thời gian nhất định. Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi. - Cho vay từng lần: Là phương thức cho vay đối với các khách hàng không có nhu cầu vay vốn thường xuyên, chỉ khi vào thời vụ kinh doanh hay mở rộng sản xuất mới xin vay. Vốn của ngân hàng chỉ tham gia vào một giai đoạn nhất định của chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Mỗi lần vay vốn, ngân hàng và khách hàng lại thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng. - Cho vay theo hạn mức tín dụng: Là phương thức cho vay mà ngân hàng và khách hàng thoả thuận một hạn mức về số dư trong suốt kỳ hoặc số dư cuối kỳ. Đây là hình thức cho vay phù hợp đối với khách hàng có nhu cầu vay mượn thường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh. - Cho vay luân chuyển: Là phương thức cho vay mà ngân hàng thoả thuận tài trợ dựa trên kế hoạch lưu chuyển hàng hoá và ngân quỹ của khách hàng.
Hình thức này phù hợp với các doanh nghiệp kinh doanh thương mại hoặc doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh có chu kỳ tiêu thụ sản phẩm ngắn. - Cho vay trả góp: Là phương thức cho vay trong đó khách hàng trả gốc thành nhiều lần trong thời hạn đã thoả thuận. Phương thức này thường được áp dụng đối với vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố định. Ngoài ra, còn một số phương thức cho vay khác như: Cho vay hợp vốn (đồng tài trợ), cho vay tài trợ theo dự án… 1.
Rủi ro tín dụng trong cho vay ngắn hạn Khái niệm Theo Ủy ban Basel, “Rủi ro tín dụng là khả năng bên vay hoặc đối tác không đáp ứng được các nghĩa vụ của mình theo các điều khoản đã thỏa thuận. Rủi ro tổn thất đối với ngân hàng là sự phá sản của bên tham gia hợp đồng, trong đó việc phá sản được xác định là bất kỳ nghiêm trọng. vi phạm nghĩa vụ hợp đồng khi trả nợ và lãi”. Rủi ro tín dụng theo Điều 3 Thông tư số 11/2021/TT-NHNN ngày 30/07/2021 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam “về việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro” thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là khả năng xảy ra tổn thất đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không có khả năng trả được một phần hoặc toàn bộ nợ của mình theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài” [7].
10 Như vậy, rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thương mại có thể hiểu đơn giản là rủi ro phát sinh trong quá trình ngân hàng cấp tín dụng, biểu hiện trên thực tế là khách hàng không trả được nợ hoặc chậm trả nợ cho ngân hàng gây thiệt hại cho ngân hàng. Theo đó, rủi ro trong cho vay ngắn hạn là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động cho vay ngắn hạn của ngân hàng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ của mình theo cam kết. Nguyên nhân rủi ro tín dụng trong cho vay ngắn hạn Bất cứ hoạt động kinh doanh nào trong nền kinh tế thị trường đều gặp rủi ro. Đặc biệt hoạt động kinh doanh của ngân hàng lại là một lĩnh vực kinh doanh nhạy cảm càng không tránh được những rủi ro.
Hơn thế nữa, rủi ro luôn tiềm ẩn lớn gây ra những tổn thất xảy ra ngoài ý muốn và ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nguyên nhân từ phía khách hàng vay vốn Nhân tố từ phía khách hàng là việc khách hàng lừa đảo, sử dụng vốn sai mục đích, trốn tránh trách nhiệm uỷ quyền và bảo lãnh. Khi mà khách hàng lừa đảo họ lợi dụng các điểm yếu và kẽ hở của ngân hàng. Họ lập các phương án kinh doanh giả, cùng các giấy tở thế chấp giả mạo hoặc đi vay ở nhiều ngân hàng với cùng một bộ hồ sơ.
Khách hàng vay vốn thiếu năng lực pháp lý; Sử dụng vốn sai mục đích, kém hiệu quả; Vốn tự có tham gia vào phương án sản xuất kinh doanh thấp; Tình hình tài chính yếu kém, thiếu minh bạch; Quản lý vốn không hợp lý dẫn đến thiếu thanh khoản; Công nghệ sản xuất lạc hậu; Thiếu năng lực điều hành; mất đoàn kết trong nội bộ ban điều hành; tham ô, tham nhũng. Nguyên nhân từ phía ngân hàng - Chính sách tín dụng không hợp lý, quá nhấn mạnh vào mục tiêu lợi nhuận dẫn đến cho vay đầu tư quá liều lĩnh, tập trung nguồn vốn cho vay quá nhiều vào một lĩnh vực kinh tế.