Chương 1: Cơ sở lý luận chung về quản trị nhân lực trong doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng công tác quản trị nhân lực tại Công ty cổ phần Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao. Chương 3: Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản trị nhân lực tại Công ty cổ phần Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao Kết luận và hướng phát triển của đề tài. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan chung về quản trị nhân lực 1.1 Các khái niệm Nhân lực Nhân lực là nguồn lực xuất phát từ trong chính bản thân của từng cá nhân con người.
Nhân lực bao gồm thể lực và trí lực. Nguồn lực này phát triển cùng với sự phát triển của con người và khi nguồn lực này đủ lớn, nó sẽ đáp ứng các điều kiện để con người có thể tham gia vào lao động, sản xuất. Nguồn nhân lực Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực, như: Theo Liên Hợp quốc, “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”, như vậy, theo quan điểm của Liên Hợp Quốc, nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác như: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Theo Ngân hàng thế giới (World Bank) “Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thẻ lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp của mỗi cá nhân”.
Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động trong tổ chức đó. Bao gồm tất cả các cá nhân tham gia bất kỳ hoạt động nào của tổ chức, bất kể vai trò của họ là gì. Quản trị nhân lực Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quản trị nhân lực song có thể thấy khái niệm này bao gồm các yếu tố sau: - Nhân lực: Bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo doanh nghiệp) tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp. - Nguồn nhân lực: đây là nguồn lực của mỗi con người, gồm có thể lực và trí lực.
Thể lực phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của con người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc, nghỉ ngơi v. Trí lực là nguồn tiềm tàng to lớn của con người, đó là tài năng, năng khiếu cũng như quan 13 điểm, lòng tin, nhân cách v. - Các hoạt động sử dụng và phát triển sức tiềm tàng của nguồn nhân lực: hoạch định, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng v. - Mục đích là nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức và duy trì phát triển tiềm năng của con người.
Tổ chức có thể là một hãng sản xuất, một công ty bảo hiểm, một cơ quan của nhà nước, một bệnh viện, một viện đại học, liên đoàn lao động, nhà thờ, hãng hàng không hay quân đội… Tổ chức đó có thể lớn hay nhỏ, đơn giản hay phức tạp. Ngày nay tổ chức có thể là một tổ chức chính trị hay một tổ chức vận động tranh cử. Như vậy quản trị nhân lực gắn liền với mọi tổ chức bất kể tổ chức đó có phòng hoặc bộ phận quản trị nhân sự hay không. quản trị nhân lực là một thành tố quan trọng của chức năng quản trị và nó có gốc rễ cùng các nhánh trải rộng khắp nơi trong một tổ chức.
Hoạch định nhân lực Đánh giá thực hiện Phân tích công việc công việc HRM Human Resources Management (Quản lý nguồn nhân lực) Đào tạo và phát triển Tuyển dụng nhân lực Bố trí và sử dụng Chế độ đãi ngộ nhân lực Hình 1.1: Sơ đồ tổng quan về quản trị nhân lực Các doanh nghiệp đều có các nguồn lực, bao gồm tiền bạc, vật chất, thiết bị và con người cần thiết để tạo ra hàng hóa và dịch vụ mà doanh nghiệp đưa ra thị trường. Hầu hết các doanh nghiệp đều xây dựng các thủ tục và quy trình về cung cấp nguyên vật liệu và thiết bị nhằm đảm bảo việc cung cấp đầy đủ chúng khi cần thiết. Tương tự như vậy, các doanh nghiệp cần phải quan tâm đến quy trình quản lý con người – một nguồn lực quan trọng của họ. 14 Quản trị nhân lực bao gồm tất cả những quyết định và hoạt động quản lý có ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa doanh nghiệp và đội ngũ nhân viên của doanh nghiệp.
Mục tiêu chủ yếu của quản trị nhân lực là nhằm đảm bảo đủ số lượng người lao động với mức trình độ và kỹ năng phù hợp, bố trí họ vào đúng công việc, và vào đúng thời điểm để đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp. Như vậy, một câu hỏi đặt ra: Ai phụ trách quản trị nhân sự trong quản lý doanh nghiệp ? Rõ ràng câu trả lời sẽ là: Mọi nhà quản lý trong doanh nghiệp. Quản trị nhân lực là đảm bảo có đúng người với kỹ năng và trình độ phù hợp, vào đúng công việc và vào đúng thời điểm thích hợp để thực hiện mục tiêu của công ty. Nhưng dù ở bất cứ xã hội nào vấn đề mấu chốt của quản trị vẫn là quản trị nhân lực.
Một doanh nghiệp dù có nguồn tài chính dồi dào, nguồn tài nguyên vật tư phong phú, hệ thống máy móc thiết bị hiện đại đi chăng nữa cũng sẽ trở nên vô ích, nếu không biết hoặc quản trị kém nguồn tài nguyên nhân sự. Chính cung cách quản trị tài nguyên nhân sự này tạo ra bộ mặt văn hoá của tổ chức, tạo ra bầu không khí có sự đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau hay lúc nào cũng căng thẳng bất ổn định. Nghiên cứu môn quản trị căn bản cho chúng ta nắm được các chức năng cơ bản của quản trị bao gồm: - Chức năng hoạch định - Chức năng tổ chức - Chức năng lãnh đạo - Chức năng kiểm tra Nhiều tác giả coi các chức năng quản trị về hoạch định, tổ chức lãnh đạo và kiểm tra là trung tâm về các cuộc bàn luận về quản trị. Những chức năng hợp thành quá trình quản trị này, quá trình được hợp thành một cách từ từ để một việc nào đó đều liên quan đến quản trị bất kể theo kiểu tổ chức hay ở cấp quản trị nào.
Khi luận giải về vấn đề này các nhà quản trị Harold, Koontz và Cyril nói. “Khi hành động theo khả năng quản trị của mình, các chủ tịch, trưởng phòng, đốc công, giám thị, trưởng khoa, giám mục và những người đứng đầu các cơ quan của chính phủ đều làm cùng một việc. Với tư cách nhà quản trị tất cả những người này phần nào đều tiến hành theo công việc được hoàn thành cùng với con người và thông qua con người. Với tư cách nhà quản trị, mỗi người trong số họ lúc này hay lúc khác đều phải được thực hiện những nhiệm vụ đặc trưng của những nhà quản trị”.
Thậm chí một quản trị gia được việc cũng sử dụng các chức năng quản trị này. Mặc dù trong nhiều trường hợp các chức năng này cũng được sử dụng theo trực giác. 15 Hoạch định bao hàm một việc thiết lập các mục tiêu và đối tượng đối với tổ chức và phát triển các biểu đồ công việc cho thấy những mục tiêu và đối tượng đó được hoàn thành như thế nào. Khi kế hoạch đã được hình thành thì việc tổ chức trở nên quan trọng.
Chức năng này bao hàm việc kết hợp các nguồn lực với nhau là con người, vốn và thiết bị một cách hiệu quả nhất để hoàn thành mục tiêu. Do vậy tổ chức bao hàm nhiều việc kết hợp các nguồn lực. Vì vậy, quản trị nhân sự chính là việc thực hiện chức năng tổ chức của quản trị căn bản, bao gồm các nội dung cơ bản sau đây: - Phân tích công việc - Tuyển dụng nhân viên - Đào tạo và nâng cao năng lực chuyên môn cho nhân viên Nâng cao hiệu quả sử dụng lao động thông qua việc sử dụng hệ thống kích thích vật chất và tinh thần đối với nhân viên. Như vậy quản trị nhân sự gắn liền với việc tổ chức, bất kỳ doanh nghiệp nào hình thành và hoạt động thì đều phải có bộ phận tổ chức.2 Vai trò của quản trị nhân lực Nhân lực được quản trị hiệu quả sẽ thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp.
Quản trị nhân lực với bốn vai trò chính là then chốt trong quá trình vận hành của doanh nghiệp, bao gồm: - Vai trò hành chính: Đưa ra những chính sách, quản lý chính sách, duy trì, bồi dưỡng nguồn nhân lực trong các tổ chức và doanh nghiệp. Đây là một bộ phận vô cùng quan trọng, quản lý trực tiếp mọi vấn đề của nhân sự nói riêng và doanh nghiệp nói chung. Thấu hiểu được các vấn đề cần phải khắc phục bổ sung, các vấn đề cần được duy trì và phát triển. Bên cạnh đó, quản trị nhân lực có vai trò xây dựng chính sách một cách hiệu quả.
Đảm bảo những hoạt động, tổ chức của doanh nghiệp phải phù hợp với các chính sách, pháp luật của nhà nước đưa ra. - Vai trò chiến lược: Tư vấn cho bộ phận nhân sự. Quản trị nhân lực là một công cụ hỗ trợ đắc lực cho những người đứng đầu cho doanh nghiệp khi doanh nghiệp gặp những tình trạng khó khăn về vấn đề nhân sự. Bộ phận quản trị nhân lực cũng là bộ phận chịu trách nhiệm tư vấn cách thức, hình thức, phương án, giải pháp tối ưu nhất cho doanh nghiệp của mình để giải quyết những vấn đề một cách nhanh chóng và hiệu quả.
Những người làm quản trị nhân lực sẽ đóng vai trò là nhà tư vấn cho nhà quản lý doanh nghiệp 16 những chiến lược về nhân sự. Điều này bao gồm tuyển dụng, bố trí nhân viên với những kỹ năng cụ thể để đáp ứng các mục tiêu hiện tại và tương lai của công ty, điều phối các lợi ích của nhân viên và đề xuất các chiến lược đào tạo phát triển. - Vai trò tác nghiệp: Kiểm tra nhân lực phù hợp. Quản trị nguồn nhân lực đóng vai trò kiểm soát chất lượng đầu vào nguồn nhân lực của doanh nghiệp dựa trên nhu cầu và khả năng thực tế để phân bổ nhân lực và đáp ứng yêu cầu cụ thể của từng phòng ban.