CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1. TỔNG QUAN VỀ VỐN NHÀ NƯỚC TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1. Doanh nghiệp nhà nước Trên thế giới hầu hết các quốc gia đều có Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN), song ở mỗi nước lại có các quy định riêng về tỷ lệ sở hữu của Nhà nước tại các DNNN. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường như hiện nay, tại các nước xã hội chủ nghĩa, các DNNN là loại hình doanh nghiệp đặc trưng và có vai trò quan trọng có tầm ảnh hưởng lớn và có sự đóng góp không hề nhỏ vào thu nhập quốc dân.” Trong thời kỳ đầu tiên hình thành mô hình DNNN, khái niệm DNNN chỉ bao gồm duy nhất các tổ chức kinh doanh hoàn toàn do Nhà nước, các cơ quan chức năng của Nhà nước cấp vốn và chịu sự kiểm soát chính thức từ phía Chính phủ.
Giai đoạn trước những năm 1990, tại một số quốc gia như Trung Quốc, Việt Nam và các nước Đông Âu, các quyền quyết định về vốn, nhân sự và quyền quản lý quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và phân phối kết quả của DNNN hoàn toàn thuộc về Nhà nước. Sau đó, từ năm 1990 trở lại đây, các thuật ngữ “doanh nghiệp có phần vốn Nhà nước” hay “doanh nghiệp sở hữu Nhà nước” mới bắt đầu được làm rõ. Theo đó, doanh nghiệp có phần vốn Nhà nước là các tổ chức kinh doanh mà Nhà nước nắm phần lớn vốn đảm bảo Nhà nước là chủ thể chi phối, còn đối với doanh nghiệp sở hữu Nhà nước là các tổ chức kinh doanh mà Nhà nước tài trợ hoàn toàn về vốn. Sự phân biệt hai khái niệm này đã góp phần quan trọng trong công cuộc cải cách kinh tế về vấn đề tư nhân hóa và từ đó cách hiểu này đã được thống nhất và phổ biến tại nhiều quốc gia trên Thế giới.” Tại Việt Nam, tính đến thời điểm hiện tại, theo Điều 17.1, Hiệp định Đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP): “Doanh nghiệp Nhà nước là một doanh nghiệp chủ yếu tham gia vào hoạt động thương mại, trong đó một bên (Nhà nước): Trực tiếp sở hữu hơn 50% vốn cổ phần; Kiểm soát trên 50% quyền biểu quyết 9 không thông qua lợi ích chủ sở hữu; Giữ quyền chỉ định đa số thành viên Ban quản trị hoặc bất kỳ bộ máy quản lý tương đương khác”.
Theo khoản 8 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định: “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ”. Theo quy định hiện hành tại Khoản 1 Điều 2 Nghị định 49/2014/NĐ-CP thi các DNNN, bao gồm: • “Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là công ty mẹ của tập đoàn kinh tế; công ty mẹ của tổng công ty nhà nước; công ty mẹ trong mô hình công ty mẹ – công ty con; công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên độc lập do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập hoặc các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (sau đây gọi chung là Bộ quản lý ngành), Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) quyết định thành lập;” • “Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn từ hai thành viên trở lên mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ do các Bộ quản lý ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là chủ sở hữu vốn đầu tư vào doanh nghiệp.” “Như vậy, một DNNN có các đặc điểm sau: (1) Chủ đầu tư: là Nhà nước hoặc Nhà nước cùng với các tổ chức, cá nhân khác; (2) Sở hữu vốn: Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ (100%) hoặc sở hữu phần vốn góp chi phối (trên 50% nhưng dưới 100% vốn điều lệ); (3) Hình thức tồn tại: DNNN có nhiều hình thức tồn tại. Nếu DNNN do nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ thì có các loại hình doanh nghiệp như: công ty nhà nước, công ty cổ phần nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước. Nếu doanh nghiệp do nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ thì có thể tồn tại dưới các loại hình doanh nghiệp sau: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn từ hai thành viên trở lên; (4) Trách nhiệm tài sản: DNNN chịu trách nhiệm trong phạm vi tài sản của doanh nghiệp.
Nhà nước chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi tài sản góp vốn vào doanh nghiệp; (5) Tư cách pháp lý: doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân; (6) Luật áp dụng: DNNN đều tổ chức và hoạt động theo luật doanh nghiệp đối với từng hình thức tồn tại khác nhau.” 10 “Đặc trưng của DNNN khác với loại hình doanh nghiệp tư nhân ở các điểm chính sau: Thứ nhất, về sở hữu: DNNN do Nhà nước nắm toàn bộ vốn điều lệ hoặc sở hữu phần lớn cổ phần trong khi đó doanh nghiệp tư nhân hoàn toàn thuộc sở hữu của tư nhân. Thứ hai, về quy mô: DNNN thường có quy mô lớn, tập trung vào những ngành then chốt. Doanh nghiệp tư nhân có quy mô từ nhỏ đến lớn, phân tán trên nhiều loại ngành nghề khác nhau. Thứ ba, về quản lý tài chính: Tài chính của DNNN tách biệt với tài chính Nhà nước nhưng phải chịu sự quản lý, điều tiết, giám sát của cơ quan chủ quản, do vậy, Nhà nước có thể hỗ trợ doanh nghiệp bằng nhiều cách như tăng thêm vốn, cho phép sử dụng lợi nhuận giữ lại hoặc thặng dư vốn để tái đầu tư.
Đối với Doanh nghiệp tư nhân thì họ phải tự chủ và tự chịu trách nhiệm về tài chính theo chế độ tài chính, kế toán được pháp luật quy định. Thứ tư, về mặt pháp lý: Doanh nghiệp nhà nước sẽ được ưu tiên về điều kiện chính sách, ưu tiên về vấn đề công nghệ, bao cấp, được chậm nộp thuế, hoãn nợ…. Doanh nghiệp nhà nước cũng sẽ có những quyền lợi thế hơn rất nhiều trong việc thực hiện tiếp cận vốn vay nước ngoài, khi mà đa số phần lớn vay nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam dành riêng cho các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. DNNN cũng hoàn toàn có ưu thế trong vị trí tiếp cận đất đai và mặt bằng sản xuất kinh doanh phát triển.
Thứ năm, tối đa hóa lợi nhuận: Trong khi doanh nghiệp tư nhân phải tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông, thì DNNN ngoài mục tiêu kinh doanh thường phải đảm nhận thêm một số trách nhiệm chính trị, xã hội, hoạt động vì lợi ích công cộng. Từ đặc điểm này dẫn đến DNNN rất khó để vừa thực hiện được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và mục tiêu chính trị phục vụ lợi ích xã hội.” “Như vậy, để đảm bảo phát triển nền kinh tế của quốc gia, có thể vươn tới các vùng sâu, vùng xa, khu vực nghèo đói mặc dù lợi nhuận thấp thì sự tồn tại của DNNN là điều cần thiết và quan trọng. Vốn nhà nước tại các doanh nghiệp Nhà nước 1. Khái niệm vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp Nhà nước Có nhiều khái niệm khác nhau về vốn của doanh nghiệp tùy theo cách tiếp cận và quan điểm riêng, tuy nhiên, có thể khái quát chung: “Vốn của doanh nghiệp là 11 giá trị tư bản hay tài sản tài chính được sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh nhằm mang lại lợi nhuận”.
“Đối với khái niệm vốn Nhà nước, ta có thể thấy bản chất của vốn Nhà nước là vốn thuộc sở hữu của Nhà nước đầu tư vào các DNNN không chỉ để tiến hành sản xuất kinh doanh mang lại lợi nhuận mà còn để đạt được các mục tiêu chính trị - xã hội, phục vụ lợi ích công cộng cũng như đảm bảo thực hiện các chức năng và vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế.” “Tại Việt Nam, đối với các DNNN để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh của mình cần phải có vốn, vốn này bao gồm vốn chủ sở hữu của DNNN và vốn do DNNN đó huy động. Hiện nay chưa có văn bản định nghĩa vốn nhà nước mà chỉ mang tính chất liệt kê, khái quát chưa mang tính tổng hợp, cụ thể như sau:” - “Theo Khoản 9, Điều 3 - Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014, Vốn của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ bao gồm vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp và vốn do doanh nghiệp huy động Trong đó, vốn chủ sở hữu của DNNN thực chất là vốn nhà nước hay còn gọi là vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp,” vốn này là “số vốn thuộc sở hữu nhà nước mà chủ sở hữu là Nhà nước và đối tượng sở hữu là vốn được pháp luật hiện hành thừa nhận thuộc chủ quyền của quốc gia, của Nhà nước”, bao gồm “vốn từ ngân sách Nhà nước, vốn tiếp nhận có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước; vốn từ quỹ đầu tư phát triển tại doanh nghiệp, quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp; vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn khác được Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp”. - Theo Khoản 44, Điều 4, Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13, các nguồn vốn thuộc vốn nhà nước được liệt kê lần lượt theo từng nhóm nguồn vốn có tính chất tương tự, bao gồm: “Vốn ngân sách Nhà nước; vốn hỗ trợ phát triển chính thức, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ; vốn từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp; vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh; vốn vay 12 được đảm bảo bằng tài sản của Nhà nước; vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước; giá trị quyền sử dụng đất”. - Theo quy định tại Khoản 14, Điều 4, Luật Ngân sách nhà nước số 83/2016/QH13, “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.
“Như vậy, xét theo nghĩa rộng, đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp là việc Nhà nước sử dụng vốn từ ngân sách nhà nước hoặc vốn từ các quỹ do Nhà nước quản lý để đầu tư vào doanh nghiệp.