CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 1.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ THUẾ 1.1 Khái niệm về quản lý thuế Quản lý thuế là khâu tổ chức, phân công trách nhiệm cho các bộ phận trong cơ quan thuế; xác lập mối quan hệ phối hợp giữa các bộ phận một cách hữu hiệu trong việc thực thi các chính sách thuế. Công tác quản lý thuế để ngày một nâng cao chất lượng cũng như hiệu quả thu cho ngân sách nhà nước, góp phần khuyến khích sản xuất kinh doanh phát triển, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao ý thức tự giác nộp thuế cho đối tượng nộp thuế và phải coi đó như một bổn phận và trách nhiệm của đối tượng nộp thuế (Học viện tài chính, 2010, giáo trình quản lý thuế, Lê Xuân Trường, trang 21) 1.2 Nội dung quản lý thuế Nội dung quản lý thuế: bao gồm những hoạt động như đăng kí thuế, khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế, quản lý thông tin người nộp thuế, kiểm tra – thanh tra thuế, cưỡng chế – xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại … Nguyên tắc quản lý thuế: có ba nguyên tắc chính trong quản lý thuế đó là: Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước. Nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia quản lý thuế.
Việc quản lý thuế được thực hiện theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Việc quản lý thuế phải bảo đảm công khai, minh bạch, bình đẳng; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế. Quyền và trách nhiệm của các bên thực hiện bao gồm: Quyền và trách nhiệm của cơ quan thuế, Quyền và nghĩa vụ người nộp thuế, 7 Trách nhiệm của các cơ quan khác.3 Các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý thuế + Chỉ tiêu tuân thủ của người nộp thuế tính trên số tờ khai thuế nộp đúng hạn trên số tờ khai thuế đã nộp: Số tờ khai thuế nộp đúng hạn: Là số tờ khai thuế chính thức NNT đã nộp lần đầu đến cơ quan thuế đúng thời hạn quy định của Luật quản lý thuế (chỉ tính đối với tờ khai thuế GTGT và TNDN đã nộp đúng thời hạn từ 01/01 đến 31/12/Năm đánh giá). Số tờ khai thuế đã nộp: Là số tờ khai thuế chính thức NNT đã nộp lần đầu đến cơ quan thuế trong kỳ (chỉ tính đối với tờ khai thuế GTGT và TNDN đã nộp từ 01/01 đến 31/12/Năm đánh giá).
Công thức tính: Số tờ khai thuế đã nộp đúng hạn Tỷ lệ tờ khai thuế nộp đúng hạn = x 100% Số tờ khai thuế đã nộp + Chỉ tiêu Số lượt NNT được giải đáp vướng mắc tại cơ quan thuế trên số cán bộ của bộ phận tuyên truyền hỗ trợ Mục đích sử dụng: Đánh giá khối lượng công việc giải đáp vướng mắc của NNT trực tiếp tại cơ quan thuế mà một cán bộ của bộ phận tuyên truyền hỗ trợ đã thực hiện Nội hàm tiêu chí: - Số lượt NNT đã phục vụ: Là toàn bộ số lượt tổ chức, cá nhân đã được giải đáp vướng mắc trực tiếp tại cơ quan thuế trong năm đánh giá. - Số cán bộ của bộ phận tuyên truyền hỗ trợ: Là tổng số công chức, viên chức thuế làm việc tại bộ phận tuyên truyền hỗ trợ của cơ quan thuế (hiện có tính đến 31/12/Năm đánh giá). Công thức tính: Số lượt NNT được giải đáp vướng mắc Số lượt NNT đã phục vụ tại cơ quan thuế trên số cán bộ của bộ = Số cán bộ của bộ phận tuyên truyền phận tuyên truyền hỗ trợ hỗ trợ + Chỉ tiêu tổng thu nội địa do ngành thuế quản lý trên dự toán pháp lệnh được giao 8 Chỉ tiêu này đánh giá công tác lập dự toán thu ngân sách và năng lực thu thuế của cơ quan thuế, tiêu chí này được dùng để phân tích nguyên nhân biến động theo từng năm. Tổng thu nội địa do ngành thuế quản lý: Là tất cả các khoản thuế, phí ngành thuế thu được trong năm, bao gồm cả thu từ dầu, thu tiền sử dụng đất.
Dự toán pháp lệnh được giao: Là dự toán thu được Bộ Tài chính giao tương ứng (bao gồm cả các khoản: thu từ dầu, thu tiền sử dụng đất) Công thức tính: Tổng thu nội địa do ngành thuế Tỷ lệ tổng thu nội địa do ngành quản lý thuế quản lý trên dự toán pháp lệnh = x 100% được giao Dự toán pháp lệnh được giao (Quyết định 688/QĐ – TCT của Tổng cục thuế về việc ban hành hệ thống chỉ số đánh giá hoạt động quản lý thuế) 1.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp Theo giáo trình Thuế của Trường đại học Kinh tế TP.HCM: thuế TNDN là loại thuế trực thu đánh vào phần thu nhập sau khi đã trừ các chi phí liên quan đến thu nhập của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ (Đại học kinh tế TP.HCM, 2010, giáo trình thuế TNDN, Nguyễn Thị Liên, trang 15) Thuế TNDN là thuế đánh vào lợi nhuận của doanh nghiệp. Thu nhập chịu thuế của một doanh nghiệp là phần thu nhập còn lại sau khi đã trừ đi các khoản chi phí có thể được khấu trừ và khấu hao vốn (Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 của Quốc hội nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 03 tháng 06 năm 2008) Thuế thu nhập doanh nghiệp được hầu hết các quốc gia trên thế giới sử dụng vì tính hiệu quả và khả năng bao quát nguồn thu. Mỗi nước với những đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau có quan niệm và cách thức áp dụng thuế TNDN khác nhau. Tuy nhiên, có thể đưa ra một khái niệm được pháp luật Việt Nam và nhiều nước khác thừa nhận: Thuế TNDN là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập chịu thuế của cơ sở sản xuất kinh doanh trong kỳ 9 Thuế TNDN là một loại thuế với đối tượng nộp thuế là các tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật thuế TNDN.
Thuế TNDN được xác định trên cơ sở phần thu nhập chịu thuế, nên thuế TNDN phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Doanh nghiệp chỉ phải nộp thuế TNDN khi hoạt động kinh doanh của họ có lợi nhuận. Thuế TNDN là thuế được khấu trừ trước thuế thu nhập cá nhân. Thu nhập mà các cá nhân nhận được từ các hoạt động kinh doanh như lợi tức cổ phần, lợi nhuận do góp vốn liên doanh liên kết, tiền lãi gửi ngân hàng … là phần thu nhập được chia sau khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.
Thuế TNDN không xác định cụ thể và rõ ràng ai là người chịu thuế nên phản ứng đối với cơ sở nộp thuế là ít. Những người sở hữu vốn ở doanh nghiệp không biết rõ phần thu nhập của mình giảm đi bao nhiêu khi phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Thuế TNDN, về bản chất, là một bộ phận sản phẩm xã hội được sáng tạo ra trong quá trình hoạt động kinh tế. Quá trình đánh thuế TNDN, thực chất, là quá trình phân phối.
Bên cạnh chủ doanh nghiệp, các nhà điều hành doanh nghiệp, lực lượng lao động làm việc cho doanh nghiệp, thì nhà nước luôn là một chủ thể đặc biệt trong quá trình phân phối lợi nhuận của các doanh nghiệp. Thuế TNDN chính là phần giá trị sản phẩm mới được tạo ra mà nhà nước nhận được trong quá trình phân phối lợi nhuận của các doanh nghiệp. Ở các nước khác nhau, thuế TNDN có tên gọi không giống nhau. Những tên gọi khác nhau của thuế TNDN như: “thuế lợi tức”, “thuế thu nhập công ty”, “thuế thực lãi” hay “thuế lợi nhuận”.
Mặc dù có nhiều tên gọi nhưng nói chung điều đó không làm thay đổi nội dung, bản chất của sắc thuế này vì nó là thuế trực thu đánh vào thu nhập chịu thuế của tổ chức. Trong khái niệm này có hai đại lượng cơ bản để phân biệt thuế TNDN với các sắc thuế khác trong hệ thống chính sách thuế, đó là: “Thu nhập chịu thuế trong một kỳ kinh doanh” và thu nhập đó là “của một doanh nghiệp”, tức là của một tổ chức, một pháp nhân chứ không phải là của một cá nhân. Kỳ kinh doanh gắn với kỳ đánh thuế ở đây thường là một năm tài chính. Tuy nhiên, theo quy định của Luật thuế TNDN thì không phải toàn bộ thu nhập của các cơ sở sản xuất kinh doanh đều là đối tượng điều chỉnh của thuế TNDN.
Thuế TNDN chỉ điều chỉnh phần thu nhập chịu thuế. Vì việc đánh thuế vào loại thu nhập nào, đánh cao hay thấp vào từng loại thu nhập là tuỳ thuộc vào quan điểm của mỗi Nhà 10 nước về điều tiết thu nhập qua thuế thu nhập, phụ thuộc vào nhu cầu chi tiêu của Chính phủ, khả năng quản lý thuế, chi phí quản lý thuế cũng như mục tiêu của thuế thu nhập phải đạt được để góp phần thực hiện các chính sách về kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ nhất định.2 Đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế TNDN ra đời và bắt nguồn từ các lý do chủ yếu sau: - Thuế TNDN được sử dụng để điều tiết thu nhập của các nhà đầu tư nhằm góp phần đảm bảo công bằng xã hội. - Thuế TNDN là một trong các nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước và có xu hướng tăng lên cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế. Khi nền kinh tế phát triển, đầu tư gia tăng, thu nhập của các doanh nghiệp và của các nhà đầu tư tăng lên làm cho khả năng huy động nguồn tài chính cho Nhà nước thông qua thuế TNDN ngày càng ổn định và vững chắc.
- Xuất phát từ yêu cầu phải quản lý các hoạt động đầu tư và kinh doanh trong từng thời kỳ nhất định, thông qua việc quy định đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế, sử dụng thuế suất và các ưu đãi thuế TNDN, nhà nước thực hiện các mục tiêu quản lý kinh tế vĩ mô. Do đó thuế TNDN có các đặc điểm sau: - Thuế TNDN là sắc thuế thuộc loại thuế trực thu, người nộp thuế TNDN là các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau đồng thời cũng là “người” chịu thuế. - Thuế TNDN phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp hoặc các nhà đầu tư.