Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý thuế GTGT trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh; Chương 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu 5 Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ GTGT ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1. Cơ sở lý luận về công tác quản lý thuế GTGT đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1. Những vấn đề cơ bản về thuế GTGT trong doanh nghiệp 1.
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là hình thức doanh nghiệp không thuộc sở hữu nhà nước, trừ khối hợp tác xã; toàn bộ vốn, tài sản, lợi nhuận đều thuộc sở hữu tư nhân hay tập thể người lao động, chủ lao động doanh nghiệp hay chủ cơ sở sản xuất kinh doanh chịu trách nhiệm toàn bộ về hoạt động sản xuất kinh doanh và toàn quyền quyết định phương thức phân phối lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế mà không chịu sự chi phối nào từ các quyết định của Nhà nước hay cơ quan quản lý. Vai trò của doanh nghiệp ngoài quốc doanh: Đa dạng về các ngành nghề kinh doanh: Cùng với sự gia tăng về số lượng và các ngành nghề kinh doanh phong phú đa dạng của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh như: thương nghiệp, dịch vụ, sản xuất… đã đem lại số thu cho ngân sách nhà nước hàng năm ngày càng chiếm tỷ trọng lớn. Khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã mở mang ra nhiều ngành nghề, thúc đẩy lưu thông hàng hóa. Sản phẩm ngày càng đa dạng, phong phú.
Mặt khác doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn có vai trò lớn trong việc ổn định nền kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn có khả năng thu hút vốn trong xã hội nhanh, hiệu quả đầu tư vốn cao tạo ra khối lượng sản phẩm lớn cho xã hội, góp phần tích tụ tập trung tư bản tạo điều kiện để tái sản xuất làm tăng 6 nhanh nguồn thu cho ngân sách nhà nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trên phương diện đóng góp cho Ngân sách Nhà nước, số thu thuế từ doanh nghiệp ngoài quốc doanh ngày càng chiếm tỷ trọng lớn so với tổng thu của Ngân sách Nhà nước. Thuế GTGT Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
Thuế giá trị gia tăng có nguồn gốc từ thuế doanh thu, Pháp là nước đầu tiên trên thế giới ban hành Luật thuế giá trị gia tăng – vào năm 1954. Thuế GTGT đánh vào mỗi giai đoạn sản xuất, lưu thông sản phẩm hàng hoá, từ khi còn là nguyên liệu thô sơ cho đến sản phẩm hoàn thành, và tiêu dùng. Thuế GTGT là một loại thuế gián thu, điều tiết vào thu nhập của người tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ một cách gián tiếp, thông qua giá cả. Thuế giá trị gia tăng được cộng vào giá bán hàng hóa, dịch vụ, và do người tiêu dùng chịu khi mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ.
Đối tượng chịu thuế GTGT: là dịch vụ, hàng hóa sử dụng cho SXKD và tiêu dùng ở trong nước, trừ các đối tượng không chịu thuế GTGT. Người nộp thuế GTGT: Theo quy định tại Điều 4 Luật thuế GTGT thì người nộp thuế GTGT là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế GTGT. Người chịu thuế: là những người tiêu dùng. Ở Việt Nam hiện nay đang áp dụng 2 phương pháp tính thuế GTGT là: - Phương pháp khấu trừ: Số thuế Thuế Thuế GTGT = GTGT - GTGT phải nộp đầu ra đầu vào 7 Trong đó: Thuế Giá tính thuế Khối lượng Thuế suất thuế GTGT = của hàng hoá x hàng hoá, dịch x GTGT của hàng đầu ra dịch vụ vụ bán ra hoá, dịch vụ đó Còn thuế GTGT đầu vào là số thuế được ghi trên hoá đơn GTGT khi mua hàng của hàng hoá, dịch vụ mà cơ sở đó mua vào hoặc trên chứng từ nộp thuế GTGT của hàng hoá nhập khẩu hoặc theo tỷ lệ % quy định.
Luật thuế GTGT của Việt Nam quy định ba mức thuế suất là 0%, 5% và 10%. Nếu thuế GTGT đầu vào lớn hơn thuế GTGT đầu ra thì doanh nghiệp sẽ được Nhà nước khấu trừ số chênh lệnh đó vào số thuế GTGT phải nộp của kỳ sau. Nếu số chênh lệch đó lớn hơn 200 triệu đồng hoặc 3 tháng liên tiếp có số thuế đầu vào lớn hơn thuế đầu ra thì doanh nghiệp sẽ được Nhà nước hoàn lại phần thuế chênh lệch đó. - Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT: Số thuế GTGT của Thuế suất thuế GTGT = hàng hoá, dịch x GTGT của hàng phải nộp vụ chịu thuế hoá, dịch vụ đó 1.
Đặc điểm của thuế GTGT - Thuế GTGT là một loại thuế gián thu vì người chịu thuế và người nộp thuế không trùng nhau. Người tiêu dùng là người chịu thuế, người bán hàng là người nộp thuế. - Thuế GTGT là sắc thuế tiêu dùng đánh vào tất cả các giai đoạn của quá trình SXKD, từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng, nhưng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của mỗi giai đoạn. Tổng số thuế GTGT của tất cả các giai đoạn đúng bằng số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng.
8 - Thuế GTGT không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của NNT, không bị ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức và phân chia quá trình SXKD, vì tổng số thuế ở các giai đoạn luôn bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng, không phụ thuộc vào số lượng giai đoạn. - Thuế GTGT không tính đến khả năng thu nhập của người chịu thuế, người có thu nhập cao hay thấp đều phải chịu thuế như nhau nếu cùng mua một loại hàng hóa, dịch vụ. - Thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng diễn ra trong phạm vi lãnh thổ, không đánh vào hành vi tiêu dùng ngoài lãnh thổ. Vai trò của thuế giá trị gia tăng Thuế GTGT với vị thế là một khoản thu chiếm tỷ lệ lớn trong số thu NSNN, thuế GTGT có vai trò cơ bản như sau: Thuế GTGT là nguồn thu quan trọng của NSNN.
Thuế GTGT tập trung thu ngay từ khâu đầu (sản xuất hoặc nhập khẩu) nên đảm bảo nguồn thu cho NSNN, hạn chế thất thu. Việc khấu trừ thuế GTGT được căn cứ trên hoá đơn mua hàng, thúc đẩy người mua phải yêu cầu người bán xuất hóa đơn, ghi đúng doanh thu với giá trị thực của hoạt động mua bán, góp phần khắc phục tình trạng thông đồng giữa người mua và người bán để trốn thuế, giảm thất thu cho NSNN. Thuế GTGT điều tiết sản xuất và tiêu dùng. Luật thuế GTGT quy định đánh thuế hoặc không đánh thuế, đánh thuế với thuế suất cao hay thấp vào các mặt hàng cụ thể, thông qua đó tác động và làm thay đổi mối quan hệ giữa cung và cầu trên thị trường, tác động tới việc lựa chọn những hàng hóa, dịch vụ để sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng, góp phần thực hiện điều tiết nền kinh tế vĩ mô.
Thuế GTGT khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, góp phần bảo hộ sản xuất trong nước. Hàng hoá xuất khẩu được áp dụng thuế suất thuế GTGT 0%. Thuế GTGT là động lực khuyến khích sản xuất các mặt hàng xuất khẩu. Thuế GTGT góp phần điều tiết thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối.
Thuế GTGT đánh thuế suất thấp hơn đối với các hàng hoá 9 thông thường, có tính chất thiết yếu và ngược lại thuế GTGT đánh thuế suất cao hơn vào những hàng hóa, dịch vụ có tính chất cao cấp, chỉ những người có thu nhập cao mới sử dụng. Thuế GTGT khuyến khích tăng hiệu quả sản xuất. Giá cả của hàng hoá được bán ra trong nền kinh tế thị trường phụ thuộc vào yếu tố cung cầu. Thuế GTGT thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện chế độ hạch toán, kế toán, phát triển quan hệ thanh toán.
Doanh nghiệp được khấu trừ thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ mua vào hoặc hoàn thuế GTGT đã khuyến khích doanh nghiệp áp dụng chế độ kế toán, hoá đơn, sổ sách, hoàn thiện công tác hạch toán kế toán của đơn vị. Thuế GTGT là công cụ kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh của các thành phần kinh tế. Từ công tác thu thuế mà cơ quan thuế phát hiện những khó khăn mà NNT gặp phải để giúp đỡ họ tìm biện pháp giải quyết. Đồng thời, cũng qua công tác thu thuế, cơ quan thuế cập nhật được nhiều kiến thức quản lý kinh tế để phục vụ tốt hơn cho việc kiểm tra, kiểm soát sau này.
Kết quả là công tác quản lý thuế có thể kết hợp kiểm tra, kiểm soát mọi mặt hoạt động của các cơ sở kinh tế, đảm bảo thực hiện tốt quản lý Nhà nước về mọi mặt của đời sống. Công tác quản lý thuế GTGT đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh * Quản lý thuế GTGT: Thuế GTGT là một sắc thuế có vai trò quan trọng trong việc huy động nguồn lực cho NSNN, cũng như là công cụ để Nhà nước kiểm soát các hoạt động SXKD của các thành phần kinh tế…, do đó công tác quản lý thuế GTGT là một công tác quan trọng cần được hoàn thiện để nâng cao hiệu quả. Quản lý thuế GTGT là hoạt động của cơ quan thuế nhằm mục đích chủ yếu là đảm bảo nguồn thu thuế GTGT cho NSNN, giúp Nhà nước kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh của các thành phần kinh tế và góp phần phát huy tốt hơn vai trò của Luật thuế GTGT. * Mục tiêu quản lý thuế GTGT - Bảo đảm thu đúng, thu đủ các khoản thuế GTGT phải thu, chống thất thu thuế, hạn chế thất thu do thu thiếu, trốn thuế, lậu thuế.
đảm bảo nguồn thu cho NSNN 10 - Quản lý thuế GTGT được thực hiện tốt là điều kiện thuận lợi, hỗ trợ các doanh nghiệp trong hoạt động SXKD thông qua các cơ chế, chính sách của Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp.Việc quản lý thuế GTGT được thực hiện tốt, doanh nghiệp không bị gây phiền hà, sách nhiễu, đó cũng là sự hỗ trợ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp làm ăn. Tất cả điều đó kích thích doanh nghiệp phát triển, theo đó nguồn thu NSNN được phát triển, được nuôi dưỡng. - Quản lý thuế được thực hiện tốt có nghĩa là mọi chế độ chính sách của Nhà nước được công khai minh bạch, từ đó tạo được niềm tin của doanh nghiệp đối với chính sách của Nhà nước.