phần mở đầu, kết luận và các phần phụ khác, nội dung đề tài gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công tác quản lý thu BHXH. Chƣơng 2: Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý thu BHXH tại BHXH thị xã An khê, tỉnh Gia Lai. Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp hoàn thiện quản lý thu BHXH tại BHXH thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai. e 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI 1.
Tổng quan về BHXH 1. Khái niệm BHXH Từ những năm giữa thế kỷ XIX, khi nền công nghiệp và kinh tế hàng hóa bắt đầu phát triển mạnh mẽ ở các nƣớc Châu Âu thì BHXH bắt đầu xuất hiện và đƣợc xem là bộ phận chủ yếu và quan trọng nhất trong hệ thống an sinh xã hội của mỗi quốc gia. Từ năm 1883, ở nƣớc Phổ (Cộng hòa Liên Bang Đức ngày nay) đã ban hành Luật BHXH. Đến cuối năm 1920, một số nƣớc Châu Âu và Bắc Mỹ cũng ban hành Đạo luật về BHXH.
Mặc dù ra đời lâu nhƣ vậy nhƣng khái niệm về BHXH cho đến nay vẫn chƣa đƣợc sử dụng thống nhất, ở mỗi cách tiếp cận khác nhau, ngƣời ta “nhận diện” BHXH theo cách riêng. Tại Việt Nam, khái niệm BHXH đƣợc nêu trong Từ điển Bách khoa Việt Nam và trong Luật BHXH Việt Nam đƣợc coi là phù hợp nhất. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: "BHXH là sự đảm bảo, thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi họ mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho NLĐ và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội". Theo quy định tại Điều 3, Luật BHXH số 58/2014/QH13 của Quốc hội nƣớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2014 thì: “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH”.
e 7 Cả hai khái niệm nêu trên khi xét về nội dung thì không có gì khác biệt. Tuy nhiên, theo Từ điển Bách khoa thì khái niệm về BHXH đƣợc trình bày chi tiết phù hợp với cách tiếp cận BHXH có sự bảo hộ của nhà nƣớc nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho ngƣời lao động nói riêng và an toàn xã hội nói chung, còn khái niệm BHXH theo Luật BHXH phù hợp hơn với xu thế của nền kinh tế mở. Để có một khái niệm thống nhất trong việc nghiên cứu BHXH tại Việt Nam, trên phƣơng diện lý thuyết BHXH đƣợc khái quát nhƣ sau: “BHXH là phương pháp chuyển giao rủi ro được thực hiện thông qua việc tạo lập quỹ tài chính BHXH, nhằm đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết”. Với khái niệm BHXH nhƣ trên, ta có thể tiếp cận về BHXH trên cả phƣơng diện kinh tế và phƣơng diện xã hội.
Về mặt bản chất, BHXH là “bù đắp” khoản thu nhập bị giảm hoặc mất của NLĐ tham gia BHXH. Đặc điểm của BHXH BHXH có các đặc điểm sau: Thứ nhất: Thời hạn bảo hiểm rất dài và đó là một quá trình diễn ra liên tục từ khi NLĐ tham gia BHXH đến khi chết. BHXH bảo hiểm cho NLĐ cả trong quá trình lao động và ngoài quá trình lao động. Còn đối với ngƣời SDLĐ, thời hạn tham gia bảo hiểm sẽ bắt đầu từ khi họ thuê mƣớn ngƣời lao động cho đến khi doanh nghiệp hay tổ chức của họ không còn tồn tại vì các lý do khác nhau nhƣ: phá sản, giải thể,.
Thứ hai: BHXH chủ yếu đƣợc thực hiện dƣới hình thức bắt buộc, do vậy đối tƣợng tham gia BHXH và đối tƣợng đƣợc hƣởng trợ cấp BHXH ngày càng lớn. Điều này góp phần làm cho nguyên tắc "số đông bù số ít" trong hoạt động bảo hiểm phát huy tối đa tác dụng. Đồng thời, nó lại có liên quan đến e 8 nhiều vấn đề về tổ chức quản lý thu chi BHXH, về điều hành bộ máy. Vì vậy, nếu hệ thống tổ chức BHXH không quản lý chặt chẽ, không khoa học sẽ ảnh hƣởng trực tiếp đến tình hình huy động và sử dụng quỹ BHXH.
Thứ ba: Những rủi ro hoặc sự kiện trong BHXH thể hiện phạm vi của BHXH và nó đƣợc pháp luật khống chế thông qua hệ thống các chế độ BHXH. Những rủi ro và sự kiện này ảnh hƣởng trực tiếp đến thu nhập của NLĐ hoặc làm tăng chi tiêu đột xuất, làm thâm hụt ngân sách gia đình và từ đó làm giảm hoặc mất khả năng thanh toán của NLĐ cho những nhu cầu sinh sống thiết yếu. Do đó, tính chất khắc phục hậu quả rủi ro trong BHXH thể hiện rõ hơn tính chất tiết kiệm. Thứ tư: Phí BHXH mà NLĐ và ngƣời SDLĐ tham gia đóng góp thƣờng đƣợc nộp định kỳ hàng tháng.
Mức phí này chịu sự tác động tổng hợp của rất nhiều yếu tố nhƣ: Số lƣợng đối tƣợng tham gia BHXH; Tuổi thọ bình quân của NLĐ; Mức độ rủi ro; Hiệu quả đầu tƣ quỹ nhàn rỗi; Khả năng bảo trợ của Nhà nƣớc; Tình hình phát triển kinh tế - xã hội,. Phí BHXH đƣợc pháp luật quy định rất cụ thể và có thể thay đổi trong mỗi thời kỳ cho phù hợp với thực tế hoạt động của hệ thống BHXH và tình hình kinh tế - xã hội của mỗi nƣớc. Cũng giống nhƣ phí bảo hiểm thƣơng mại, khi xác định phí BHXH thƣờng phải dựa vào một số yếu tố giả định nhƣ: giả định về tuổi thọ của NLĐ, về lãi suất đầu tƣ, về tình hình lạm phát, .Vì thế, quá trình xác định phí BHXH là rất phức tạp và phải dựa vào kết quả dự báo dài hạn về số lao động tham gia BHXH, về nguồn quỹ BHXH trong tƣơng lai,. Thứ năm: BHXH đƣợc thực hiện trong khuôn khổ pháp luật và Nhà nƣớc là ngƣời đứng ra bảo hộ cho các hoạt động BHXH.
So với các hoạt động khác trong nền kinh tế - xã hội, hoạt động BHXH phải có sự bảo hộ của nhà nƣớc để đảm bảo việc thu, chi BHXH theo đúng quy định, đảm bảo lợi ích e 9 hợp pháp của ngƣời lao động. Quỹ BHXH đƣợc tồn tích theo thời gian, cho nên chịu sự tác động rất lớn của các yếu tố chính trị, kinh tế và xã hội. Nếu không có sự bảo hộ của Nhà nƣớc, hoạt động BHXH sẽ không thể bền vững và mục tiêu của BHXH sẽ rất khó thực hiện. Từ các đặc điểm trên của BHXH cho thấy tính tuân thủ đóng góp trong thực hiện chính sách BHXH là nội dung cơ bản và quan trọng nhất trong công tác quản lý thu BHXH của cơ quan BHXH.
Nội dung cơ bản của BHXH 1. Đối tượng và đối tượng tham gia BHXH: BHXH chi trả cho ngƣời lao động khi họ tham gia BHXH và thu nhập của họ bị giảm sút, hoặc bị mất do bị giảm hoặc mất khả năng lao động, hoặc khả năng lao động không đƣợc sử dụng do các rủi ro và các sự kiện đƣợc bảo hiểm. Nhƣ vậy, BHXH không “bảo hiểm” cho bản thân NLĐ mà “bảo hiểm” cho thu nhập của họ. Hay nói cách khác, BHXH là việc “bù đắp” khoản thu nhập bị giảm hoặc mất của NLĐ, nên đối tƣợng của BHXH là thu nhập bị mất hoặc bị giảm đó.
Và nhờ khoản “bù đắp” này mà ngƣời lao động có thể đảm bảo cuộc sống của họ. Đối tƣợng tham gia BHXH là cá nhân hoặc tổ chức có trách nhiệm đóng góp để tạo lập nên quỹ BHXH. Nói cách khác, những NLĐ và ngƣời SDLĐ tham gia đóng góp vào quỹ BHXH đều là đối tƣợng tham gia BHXH. Tham gia BHXH đƣợc thực hiện bắt buộc ở hầu hết các nƣớc trên thế giới.
Tuy nhiên, có những nƣớc thực hiện BHXH theo hai hình thức BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện. Đối tƣợng tham gia BHXH bắt buộc và đối tƣợng tham gia BHXH tự nguyện nhƣ sau: - Đối tƣợng tham gia BHXH bắt buộc bao gồm: những NLĐ và ngƣời SDLĐ bắt buộc phải tham gia đóng góp BHXH theo pháp luật về BHXH. - Đối tƣợng tham gia BHXH tự nguyện bao gồm: những NLĐ và ngƣời e 10 SDLĐ không thuộc diện quy định tham gia BHXH bắt buộc nhƣng tự nguyện tham gia đóng góp BHXH cho chính họ hoặc cho NLĐ của họ. Các chế độ BHXH Chế độ BHXH là hệ thống các quy định của Nhà nƣớc về mức hƣởng, điều kiện hƣởng; mức đóng, điều kiện đóng BHXH.
Tùy theo từng trƣờng hợp BHXH mà Nhà nƣớc có các quy định khác nhau về các mức, các điều kiện này. Trong Công ƣớc 102 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) có quy định trợ cấp tối thiểu cho 9 nhánh chế độ BHXH là: (1) chế độ ốm đau; (2) chế độ thai sản; (3) chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; (4) chế độ bảo hiểm thất nghiệp; (5) chế độ chăm sóc y tế; (6) chế độ tàn tật (ở Việt Nam còn gọi là chế độ mất sức lao động, nhƣng với nghĩa khác); (7) chế độ tử tuất; (8) chế độ hƣu trí, (9) chế độ chăm sóc gia đình (cho những ngƣời đông con). Tuy nhiên, tuỳ theo điều kiện kinh tế - xã hội của từng nƣớc, trong từng giai đoạn mà số lƣợng các chế độ đƣợc thực hiện ở mỗi nƣớc là khác nhau. Ở Việt Nam, Điều 4 Luật BHXH số 58/2014/QH13 của Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2014 quy định thực hiện 05 chế độ trong 09 chế độ BHXH nêu trên gồm: Ốm đau; Thai sản; Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; Hƣu trí; Tử tuất.
Bên cạnh đó còn có: chế độ BHTN đƣợc quy định tại Luật Việc làm; chế độ BHYT đƣợc quy định tại Luật BHYT. Chế độ BHXH gồm 02 loại hình: BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện. Loại hình BHXH bắt buộc Luật BHXH Việt Nam quy định phải tham gia 05 chế độ e 11 BHXH nhƣ đã đề cập. Loại hình BHXH tự nguyện chỉ tham gia 02 chế độ Hƣu trí và Tử tuất.