CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THI CÔNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 1. Khái niệm và mục tiêu của công tác quản lý thi công xây dựng công trình 1. Khái niệm Thi công xây dựng công trình là hoạt động thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình mà nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng và lắp đặt thiết bị đối với công trình xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, di dời, tu bổ, phục hồi; phá dỡ công trình; bảo hành, bảo trì công trình xây dựng. công có thể khái quát thành chức năng quyết định, nhiệm vụ lên kế hoạch, tổ chức, điều hành, khống chế dự án.
Nếu tách rời các chức năng này thì dự án không thể vận hành có hiệu quả, mục tiêu quản lý cũng không thực hiện được. Quá trình thực hiện mỗi dự án đều cần có tính sáng tạo, vì thế chúng ta thường coi việc quản lý dự án xây dựng là quản lý sáng tạo. Quản lý là sự kết hợp của ba phương diện: (1). Thông qua tập thể để thúc đẩy tính tích cực của cá nhân.
Điều hòa quan hệ giữa người với người, giảm mâu thuẫn giữa các bên. Tăng cường hợp tác hỗ trợ lẫn nhau, thông qua hỗ trợ để làm được những việc mà một cá nhân không thể làm được, thông qua hợp tác tạo ra giá trị lớn hơn giá trị cá nhân – giá trị tập thể. Xây dựng công trình là một loại công việc có đặc trưng điển hình của một dự án. Cho dù đó là một khu chung cư, một cao ốc văn phòng hay là một chiếc cầ.u thì 5 cũng đều là đã phê duyệt, vì vậy, nó đều có thể trở thành đối tượng của quản lý dự án.
Quản lý dự án thi công xây dựng công trình bao gồm sự tham gia của nhiều chủ thể, trong đó có bộ quá trình xây dụng. Công việc quản lý này bao gồm toàn bộ quá trình từ chuẩn bị thi công đến lúc nghiệm thu công trình và bàn giao đưa vào sử dụng. Vì thê làm tốt công tác quản lý là việc có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong thực hiện dự án. Mục tiêu Kết quả cuối cùng đạt được: Mục tiêu của quản lý thi công xây dựng công trình thể hiện ở chỗ các công việc phải được hoàn thành theo yêu cầu, đảm bảo chất lượng, trong phạm vi chi phí được duyệt, đúng thời gian và giữ nguyên phạm vi dự án không thay đổi.
Mỗi dự án đầu tư xây dựng công trình thường đặt ra một hoặc nhiều mục tiêu cần đạt được. Các mục tiêu cụ thể khi quản lý thi công xây dựng công trình bao gồm: - Mục tiêu về chất lượng công trình xây dựng. - Mục tiêu về thời gian thực hiện. - Mục têu về chi phí (giá thành).
- Mục tiêu về an toàn lao động. - Mục tiêu về vệ sinh môi trường - Mục têu về quản lý rủi ro. Nguồn lực: 6 Để đạt được kết quả mong muốn mỗi dự án xây dựng công trình đều phải dự trù chi phí, nguồn lực huy động cho dự án xây dựng công trình (nhân lực, tài lực, vật lực,…). Trên thực tế do những biến cố, rủi ro làm cho chi phí, thực tế thường có nguy cơ vượt quá dự kiến ban đầu.
Cũng có những trường hợp không đủ nguồn lực huy động cho dự án xây dựng công trình như dự kiến làm cho dự án triển khai không thuận lợi, phải điều chỉnh, thay đổi mục tiêu so với dự kiến ban đầu. Thời gian: Đê thi công xây dựng công trình đòi hỏi phải có thời gian ngắn nhất và thường bị ấn định khống chế do nhiều lý do (cạnh tranh thị trường, tranh thủ thời cơ, giành cơ hội,…). Ngay trong từng giai đoạn của chu trình dự án cũng có thể bị khống chế về thời gian thực hiện. Thông thường tiến trình thực hiện một dự án xây dựng công trình theo thời gian có thể chia ra 03 thời kỳ: khởi đầu, triển khai và kết thúc.
Nếu một dự án xây dựng công trình được thi công mà đạt được kết quả cuối cùng theo dự kiến (độ hoàn thiện yêu cầu) trong thời gian khống chế với một nguồn lực đã xác định thì dự án xây dựng công trình xem như đã hoàn thành. Tuy nhiên trên thực tế thường rất khó, thậm chí không thể nào đạt được và do đó trong quản lý thi công xây dựng công trình người ta thường phải tìm cách kết hợp, dung hòa 03 phương diện chính của một dự án xây dựng công trình bằng cách lựa chọn và thực hiện phương án kinh tế nhất theo từng trường hợp cụ thể. Ba yếu tố cơ bản: thời gian chi phí và kết quả là những mục tiêu cơ bản của công tác quản lý thi công xây dựng công trình và giữa chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Sự kết hợp của 03 yếu tố này tạo thành mục tiêu tổng thể của quản lý thi công.
Nguyên tắc và yêu cầu của công tác quản lý thi công xây dựng công trình Nguyên tắc của công tác quản lý thi công xây dựng công trình: - Thống nhất lãnh đạo về chính trị, kinh tế; - Tập trung dân chủ; - Tập thể lãnh đạo kết hợp với cá nhân phụ trách; - Kết hợp giữa giáo dục chính trị tư tưởng với khuyến khích bằng vật chất; 7 - Vận dụng tổng hợp các quy luật kinh tế xã hội chủ nghĩa và kinh tế thị trường có điều tiết của Nhà nước, trong đó chú ý đến hoạch toán kinh tế trong xây dựng cơ bản; - Cần kiệm xây dựng phải đảm bảo kỹ thuật và hiệu quả kinh tế cao. Yêu cầu của công tác quản lý thi công xây dựng công trình: - Phải thi công công trình theo đúng thiết kế: quy định này nhằm đảm bảo cho từng hạng mục công trình được kiểm tra theo đúng yêu cầu của chủ đầu tư về hình khối kiến trúc, công năng sử dụng, kích thước và cấu tạo công trình, chất lượng công trình. - Phải thực hiện đúng quy trình, quy phạm kỹ thuật trong sản xuất kể cả việc lấy mẫu và thí nghiệm vật liệu xây dựng. - Phải tuân thủ các quy định hiện hành về hoạt động kinh doanh xây lắp; thực hiện đầy đủ mọi điều khoản trong hợp đồng đã kus kết.
- Phải tôn trọng sự giám sát thi công từ phía ngoài. Hình thức tổ chức quản lý thi công xây dựng công trình 1. Tổ chức dạng chức năng Đặc trưng: Tổ chức dự án theo loại hình chức năng không làm rối loạn cơ chế hiện hành của doanh nghiệp mà ủy quyền thực hiện dự án này cho một bộ phận hoặc nhóm thi công nào đó trong doanh nghiệp, do bộ phận hoặc nhóm thi công được ủy quyền này lãnh đạo, lựa chọn ra một nhóm người trong doanh nghiệp để thực thi tổ chức dự án, sau khi dự án kết thúc sẽ khôi phục lại chức năng cũ. *Ưu điểm: Mỗi một bộ phận chức năng của kết cấu này đều tập hợp được những nhân tài chuyên môn trên lĩnh vực này, điều này có lợi cho việc giao lưu và nghiên cứu học hỏi giữa họ, đồng thời được sự ủng hộ mạnh mẽ về trí lực và kỹ thuật cho việc giải quyết các vấn đề của dự án.
Tính linh hoạt trong sử dụng nhân viên: Nhân tài về chuyên ngành và kỹ thuật trên một phương diện nào đó mà nhóm dự án cần có có thể được lựa chọn từ các ban ngành chức năng tương ứng. Hơn nữa, khi một thành viên nào đó có xung đột trong nhiệm vụ công việc, bộ phận chức năng có thể linh hoạt lựa chọn thành viên khác để thay thế, như vậy có thể bảo đảm cho dự án được thực hiện liên tục, không bị gián đoạn. Việc phân công theo chuyên môn hóa: Các bộ phận được phân 8 chia theo chức năng và chuyên ngành nên sẽ có lợi cho các nhân tài chuyên môn ở các bộ phận chuyên tâm vào việc nghiên cứu và tìm hiểu các kiến thức kỹ thuật trên lĩnh vực này, có thể tiến hành sáng chế kỹ thuật và cải tiến phương pháp làm việc một cách hiệu quả. Giám đốc dự án không cần đào tạo chuyên ngành vẫn có thể dễ dàng đảm nhận nhiệm vụ.
Thời gian từ lúc nhận nhiệm vụ đến lúc tổ chức bắt đầu đi vào vận hành ngắn. Chức trách rõ ràng, chức năng chuyên nhất, quan hệ giản đơn. *Nhược điểm: Xét về mặt điều hành: Vì các thành viên của nhóm dự án được chọn từ các bộ phận chức năng khác nhau nên giám đốc dự án phải nhất trí trong điều hành với lãnh đạo của các bộ phận chức năng, khi hai bên có xung đột về nhu cầu của một nhân viên nào đó thường sẽ rất khó điều chỉnh. - Xét về mặt tổng thể của tổ chức dự án: Vì sự cấu tạo của các thành viên trong nhóm dự án có tính bất ổn và tính ứng biến nhất định nên điều này lại gây ra những khó khăn cho công tác quản lý của tổ chức.
- Xét về mặt chức trách: Vì các thành viên của nhóm dự án thuộc về hai bộ phận nên không ai muốn tự nguyện và chủ động gánh vác trách nhiệm và đương đầu với mạo hiểm, hơn nữa, các thành viên trong nhóm dự án lại có tính lưu động nhất định nên trách nhiệm của họ cũng khó mà xác định rõ ràng, điều này sẽ khiến cho công tác quản lý rơi vào trạng thái hỗn loạn. Phạm vi áp dụng: Tổ chức theo dạng này nói chung thích hợp với các dự án thi công quy mô nhỏ, không phải liên quan đến nhiều bộ phận.1: Kết cấu tổ chức theo chức năng 9 1. Tổ chức dạng dự án, tổ chức dạng ma trận Đặc trưng: Có tổ chức và đội ngũ dự án độc lập, hoàn chỉnh của riêng mình, giám đốc dự án có quyền khống chế hoàn toàn đối với đội ngũ dự án. Thành viên trong ban dự án không có mối quan hệ lãnh đạo và bị lãnh đạo với bộ phận làm việc cũ trong thời gian xây dựng công trình.
Nhân viên phụ trách của đơn vị cũ có thể phụ trách chỉ đạo và giám sát nghiệp vụ, nhưng không có quyền tùy ý can thiệp vào công việc của họ hoặc điều động họ quay trở lại bộ phận cũ. Tổ chức quản lý dự án có cùng tuổi thọ với dự án. Sau khi dự án kết thúc, cơ cấu giải thể, tất cả nhân viên của tổ chức quản lý dự án vẫn được quay về bộ phận và cương vị cũ.