CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 1. Tổng quan về các trường đại học công lập Trường đại học được hiểu là nơi thực hiện đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học; chỉ đào tạo trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ khi được Thủ tướng Chính phủ giao. Trường đại học có thể đào tạo đơn ngành hoặc đa ngành và được gọi chung là cơ sở giáo dục đại học. Trường đại học công lập là cơ sở giáo dục đại học do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập và Nhà nước trực tiếp tổ chức quản lý với nguồn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên chủ yếu do ngân sách nhà nước bảo đảm.
Cở sở giáo dục đại học khi đảm bảo các điều kiện theo luật quy định mới được giao nhiệm vụ thực hiện chương trình giáo dục thường xuyên để cấp bằng tốt nghiệp cao đẳng, đại học. Các điều kiện cần phải đảm bảo: đã xây dựng được chương trình giáo dục thường xuyên đối với ngành đào tạo, có đội ngũ giảng viên đủ số lượng, đạt chuẩn và đồng bộ về cơ cấu để thực hiện đồng thời nhiệm vụ giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên; có cơ sở vật chất, trang thiết bị bảo đảm đáp ứng yêu cầu thực hiện đồng thời nhiệm vụ giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên. Vai trò của giáo dục đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân Theo Luật giáo dục 2005, Nhà nước xác định giáo dục đại học giữ vai trò đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các trường đại học ngày này hướng tới mục tiêu giáo dục và đào tạo phải thỏa mãn nhu cầu của 3 đối tượng: nhu cầu của Nhà nước về cán bộ quản lý Nhà nước trong các ngành; nhu cầu của người học để có được kiến thức và trình độ nhằm có 6 được việc làm với thu nhập ổn định; nhu cầu sử dụng người lao động được đào tạo chuyên môn của các doanh nghiệp.
Hay nói cách khác, vai trò của giáo dục đại học trong hệ thống giáo dục là tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, cung cấp cho xã hội những nhà quản lý, nhà khoa học có đức, có tài năng động sáng tạo, có khả năng thích ứng với công việc, đáp ứng những yêu cầu mới của thời đại. Hoạt động của các trường đại học công lập Hoạt động của các trường đại học công lập là hoạt động phi lợi nhuận, hoạt động vì lợi ích chung và lâu dài cho cộng đồng và xã hội. Đặc điểm của hoạt động này là tạo ra sản phẩm công cộng thuần túy - việc tiêu dùng của người này không loại trừ việc tiêu dùng của người khác; và bị chi phối bởi mục tiêu, chương trình phát triển kinh tế - xã hội quốc gia. Hoạt động của các trường đại học công lập được cụ thể hóa bằng ba hoạt động sau: - Hoạt động thứ nhất là tổ chức các hoạt động giáo dục và đào tạo Các trường đại học được đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học; chỉ được đào tạo trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ khi được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép.
Các trường xây dựng chương trình đào tạo trên cơ sở chương trình khung do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Đối với các chương trình đào tạo chưa có chương trình khung, chương trình đào tạo thí điểm, trường đại học phải xây dựng chương trình đào tạo theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Xây dựng và triển khai các chương trình bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng nhu cầu xã hội và hội nhập quốc tế. Đồng thời phải thường xuyên phát triển chương trình đào tạo theo hướng đa dạng hóa, chuẩn hóa, hiện đại hóa, tạo điều kiện để nhanh chóng tiếp thu có chọn lọc những chương trình đào tạo của các nước phát triển về khoa học công nghệ, phù hợp với yêu cầu của đất nước, phục vụ thiết thực cho sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung, của từng ngành, lĩnh vực, vùng, địa phương nói riêng.
- Hoạt động thứ hai là hoạt động khoa học và công nghệ Mục tiêu và nhiệm vụ của hoạt động khoa học và công nghệ thể hiện trên ba phương diện: 7 Một là: tạo ra tri thức, công nghệ, giải pháp, sản phẩm mới, góp phần hình thành và nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học cho giảng viên, nghiên cứu viên, người học và nâng cao chất lượng đào tạo. Hai là: ứng dụng tri thức, công nghệ mới và tạo ra phương thức, giải pháp mới phục vụ phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo, kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước, góp phần tạo cơ sở cho hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ. Ba là: đóng góp và phát triển kho tàng tri thức, công nghệ của nhân loại. - Hoạt động thứ ba là hợp tác quốc tế Nhằm đảm bảo phát triển nhà trường bền vững.
Khai thác các khả năng hợp tác với tổ chức, cá nhân nước ngoài để phục vụ có hiệu quả sự phát triển của nhà trường, của sự nghiệp giáo dục và góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hợp tác quốc tế về giáo dục của trường đại học nhằm bảo đảm giáo dục người học về nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, tôn trọng bản sắc văn hóa dân tộc, thực hiện mục tiêu giáo dục, yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục phù hợp với mỗi trình độ đào tạo của giáo dục đại học; làm cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài hiểu về đất nước, con người Việt Nam và hệ thống giáo dục Việt Nam; đáp ứng nhu cầu hợp tác của đối tác nước ngoài theo khả năng của nhà trường trên nguyên tắc bình đẳng, các bên cùng có lợi. Căn cứ vào ba hoạt động cơ bản trên, các trường đại học công lập xây dựng cụ thể chương trình hoạt động cho đơn vị mình để đạt được mục tiêu giáo dục đại học của quốc gia đề ra một cách hiệu quả nhất. Quản lý tài chính tại trường đại học công lập Quản lý tài chính là một hệ thống các cách thức, phương thức và công cụ quản lý được sử dụng để tác động vào các chính sách, chế độ từ đó thực hiện các hoạt động tài chính của đơn vị trong những điều kiện cụ thể nhằm đạt được những mục tiêu đã định trong từng giai đoạn nhất định đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động 8 của đơn vị.
Quản lý tài chính tại trường đại học công lập bao gồm các cách thức, phương thức tạo lập hành lang pháp lý cho quá trình hình thành, tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ trong trường đại học công lập. Cơ chế quản lý tài chính được xây dựng trên quan điểm nhất quán xuất phát từ mục tiêu đã được Nhà nước xác định thông qua các văn bản luật, dưới luật quy định hoạt động giáo dục và đào tạo. Mục tiêu quản lý tài chính tại trường đại học công lập luôn hướng tới ba vấn đề sau: - Khai thác các nguồn thu trong nội bộ Nhà trường và bên ngoài trường không chỉ để hoàn thành nhiệm vụ Nhà nước giao mà còn để phục vụ tốt nhất hoạt động giáo dục và đào tạo, hoạt động khoa học công nghệ và hoạt động hợp tác quốc tế của trường đại học; - Nâng cao ý thức sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn thu; - Tăng cường khả năng giám sát, kiểm soát nội bộ trên cơ sở minh bạch các hoạt động tài chính và xây dựng cơ chế quản lý tài chính phù hợp với đơn vị. Nội dung quản lý tài chính tại trường đại học công lập Căn cứ vào mục tiêu quản lý tài chính, trường đại học công lập thực hiện nội dung quản lý tài chính cụ thể qua bốn nội dung sau: quản lý nguồn thu, quản lý các khoản chi, quản lý tài sản thuộc sở hữu của trường và kiểm tra, kiểm soát hoạt động tài chính tại đơn vị.
Quản lý nguồn thu Nguồn thu tại trường đại học công lập bao gồm: Ngân sách Nhà nước cấp, nguồn thu sự nghiệp và các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật. - Ngân sách Nhà nước cấp như kinh phí dùng cho các hoạt động thường xuyên của trường theo quy định của Chính phủ; kinh phí thực hiện các hoạt động khoa học và công nghệ, chương trình mục tiêu quốc gia và các nhiệm vụ khác được cấp có thẩm quyền giao; vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động đào tạo, hoạt động khoa học và công nghệ theo dự án và kế hoạch hằng năm; vốn đối ứng do các dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; kinh phí đầu tư ban đầu, đầu tư khuyến khích của Nhà 9 nước đối với trường đại học tư thục. - Nguồn thu sự nghiệp như thu học phí, lệ phí từ người học; Thu từ các hoạt động hợp tác đào tạo, hoạt động khoa học và công nghệ; Kinh phí Nhà nước thanh toán cho nhà trường theo chế độ đặt hàng để thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước; Thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. - Các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật như đầu tư của các tổ chức, cá nhân ở trong nước và nước ngoài để phát triển giáo dục theo quy định của pháp luật; Tài trợ, viện trợ, ủng hộ, quà biếu, tặng, cho của các tổ chức, cá nhân ở trong nước và nước ngoài; Các nguồn thu hợp pháp khác.
Quản lý nguồn thu là xác định đúng đối tượng thu, thực hiện thu đúng, thu đủ theo mức thu do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định. Nếu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành khung mức thu đối với một số hoạt động, thì đơn vị căn cứ vào mức chi tối thiểu có thể đảm bảo hoạt động thường xuyên diễn ra bình thường và khả năng đóng góp của xã hội để quyết định mức thu cụ thể cho từng loại hoạt động; cho từng đối tượng thu miễn sao mức thu không vượt mức trần khung thu do cơ quan có thẩm quyền quy định. Những hoạt động nào không có quy định khung mức thu thì đơn vị tự quyết định mức thu theo nguyên tắt bảo đảm bù đắp chi phí và có tích lũy.