CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH Ở ĐƠN VỊ DỰ TOÁN QUÂN ĐỘI.1 Cơ sở lý luận về quản lý tài chính ở đơn vị dự toán quân đội.1 Một số khái niệm liên quan.1 Tài chính, tài chính công, quản lý tài chính công a. Tài chính: Theo chương trình Lý luận tài chính của Học viện tài chính (2015): “Tài chính hiện ra là sự chuyển động của nguồn tiền tệ diễn ra bởi nhiều chủ thể trong xã hội. Phản ánh đa dạng về mối tương quan vật chất hình thành trong phân bổ những nguồn tài chính và sự thiết lập hay sử dụng một số quỹ tiền tệ cho phép giải quyết nhiều yêu cầu khác nhau của mỗi chủ thể trong xã hội Nguồn tài chính là năng lực tài chính do nhiều chủ thể tham gia xã hội muốn khai thác sử dụng và đáp ứng những lợi ích của bản thân. Cuối cùng của quá trình phân chia những nguồn tài chính là sự xây dựng và sử dụng một số quỹ tiền tệ đặc biệt ” [6] b.
Tài chính công: "Tài chính công là tổng hợp những hoạt động thu, nộp thuế được Nhà nước quyết định. Góp phần phản ánh toàn diện các mặt kinh tế hình thành qua quá trình xây dựng và sử dụng những quỹ công nhằm giải quyết kịp thời nhiều yêu cầu gắn liền với thực tiễn thi hành một số chức năng, quyền hạn của Nhà nước như điều tiết kinh tế, thương mại, quốc phòng - an ninh theo mỗi tình huống cụ thể. Quản lý tài chính công: "Quản lý tài chính công là hoạt động của các chủ thể quản lý tài chính nhà nước bằng cách áp dụng có chọn lọc một số phương thức quản lý và các biện pháp quản lý để thúc đẩy và kiểm soát hoạt động của tài chính quốc gia nhằm hướng tới những mục đích đã định." [6] Đặc điểm của quản lý tài chính công: 7 Quản lý tài chính công là sự tương tác của những chủ thể quản lý tài chính công đối với kết quả hoạt động của tài chính công. Muốn quản lý tài chính công có hiệu quả trước hết phải nắm bắt các đặc điểm của quản lý tài chính công Đặc điểm để quản lý nội dung vật chất của tài chính công: “Thành phần vật chất của tài chính công là các nguồn tài chính hoặc các quỹ tiền tệ thuộc chủ sở hữu Nhà nước do Nhà nước có quyết định việc sử dụng trong một giai đoạn ngắn.
Việc nguồn tài chính nhà nước có hiện hữu dưới dạng tiền tệ hay cổ phiếu, tuy nhiên các nguồn lực tài chính chỉ là biểu thị ở mặt giá trị hơn là tượng trưng lên một khối lượng của cải vật chất của xã hội. Do đó, để quản lý tài chính công, chẳng những phải quản lý nguồn tài chính đang hiện hữu ở dưới danh nghĩa tiền tệ hoặc đầu tư dưới hình thức hàng hóa, còn phải quản lý sự vận động của tổng nguồn lực tài chính công - sự vận động về mặt giá trị - trên cơ sở tính toán nhằm đảm bảo phù hợp với sự vận động của từng dòng của cải vật chất và con người - sự vận động về mặt giá trị sử dụng - trong đời sống thực tế. Như vậy, đồng thời quản lý để đảm bảo tính cân đối về hình thức và giá trị giữa giá trị và giá trị sử dụng là một đặc điểm quan trọng nữa của quản lý tài chính công”. Những nội dung cơ bản của quản lý tài chính công Quản lý tài chính công có nội dụng đa dạng và phức tạp.
Phân loại theo những bộ phận hợp thành mỗi quỹ tài chính công, nội dung cơ bản của quản lý tài chính công là: Quản lý NSNN và quản lý một số quỹ tài chính công thuộc NSNN. Quản lý Ngân sách Nhà nước Quản lý quá trình thu của NSNN: Thu ngân sách Nhà nước có thể huy động thông qua nhiều hình thức không bắt buộc như thuế, phí, lệ phí; bán tài nguyên, khoáng sản quốc gia và một số khoản thu trong khu vực kinh tế Nhà 8 nước. Ngoài ra, tùy thuộc theo hoàn cảnh riêng của từng quốc gia còn có những hình thức huy động đặc thù như hình thức thu, mua. Quản lý quá trình chi của NSNN: Căn cứ theo quy định chung của từng khoản chi NSNN thì chúng ta mường tượng cách thức để quản lý những khoản chi NSNN như: + Quản lý các khoản chi đầu tư phát triển + Quản lý các khoản chi thường xuyên + Quản lý các khoản chi trả nợ + Quản lý chi dự phòng Quản lý và thực hiện các biện pháp cân đối thu, chi Ngân sách Nhà nước + Quản lý tín dụng Nhà nước + Quản lý dự trữ, dự phòng tài chính của Nhà nước Phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước Quản lý các quỹ tài chính công ngoài Ngân sách Nhà nước (Học viện tài chính, 2015).
Tài chính quân đội “Tài chính quân đội là một thành phần của tài chính quốc dân nên tất cả hoạt động của tài chính quân đội nhìn chung đều phải dựa theo hệ thống chủ trương, quy chế, luật lệ nhất định trong kinh tế - tài chính và căn cứ trên tình hình tài chính của lực lượng vũ trang. Nhưng hoạt động tài chính quân đội cũng có nhiều đặc trưng nhất định như có sự phân công chặt chẽ, thực hiện từng lĩnh vực nhiệm vụ riêng biệt để đảm bảo mục tiêu xây dựng tiềm lực, kịp thời sản xuất, chiến địch, đóng góp xây dựng kinh tế và thực hiện một số nhiệm vụ quan trọng mà Đảng, Nhân dân giao phó” [16]. Theo Luật Giáo dục quân sự (2004, tr. 22): "Tài chính quân đội là phần của Kinh tế - Quốc phòng với nhiều hoạt động quản lý và cung cấp tài chính giữa các đơn vị quân đội.
Nhiệm vụ cụ thể: Xây dựng dự toán thu, cấp, chi tiêu và thanh quyết toán ngân sách; quản lý tiền và tài sản quân đội; làm đầu mối tổng hợp, báo cáo việc thực hiện những thủ tục liên quan kho bạc, ngân 9 hàng; chỉ đạo, giám sát toàn bộ hoạt động tài chính của mỗi địa phương, từng đơn vị có chức năng kinh tế thuộc quân đội. Toàn bộ tài chính quân đội đều xây dựng theo cấu trúc của quân đội, trực thuộc BQP hoặc đơn vị cơ sở "[16]. Về mối quan hệ tài chính và đồng vốn với ngân sách mà quân đội quản lý và điều hành, thường là: Tiền của NSNN địa phương, tài chính doanh nghiệp nhà nước, một số lực lượng có thể đầu tư ở nhiều ngành, đơn vị. Với một số điểm nói trên chúng ta có thể thấy: Tài chính quân đội là tập hợp các giao dịch tài chính giữa những đơn vị hoạt động khác nhau của quân đội để bảo đảm cho quân đội tham gia vào tiến trình sử dụng và phân phối lại hàng hóa xã hội và thu nhập dưới hình thức giá góp phần thực hiện chức năng, nhiệm vụ của quân đội.
Đơn vị dự toán quân đội Theo chương trình Quản lý dự toán quân đội đối với đơn vị sự nghiệp của Học viện Hậu cần (2014, tr. 5) : "Đơn vị dự toán quân đội là một số đơn vị trực tiếp tham gia nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, diễn tập. phải có tài chính bảo đảm thực hiện nhiệm vụ và vốn ngân sách cấp cho đó là thứ yếu". Theo Luật tài chính (2015, tr.
28) : "Đơn vị dự toán là cơ quan, đơn vị tổ chức quản lý, khai thác và chi tiêu mọi loại quỹ nhà nước cấp phát từ ngân sách NSNN. Có nhiệm vụ và quyền hạn về công tác thành lập DTNS trong phạm vi quản lý, chuyển DTNS đến đơn vị cấp dưới và triển khai thực hiện DTNS được phân bổ; chỉ đạo thực hiện chế độ lưu trữ, chứng từ ngân sách của cấp cơ sở đối với một số đơn vị cấp dưới; hướng dẫn chặt chẽ quá trình thực hiện thu, sử dụng ngân sách và xét duyệt báo cáo QTNS của từng đơn vị dự toán cấp dưới trực thuộc ". Các ĐVDT thuộc quân đội (nói gọn là đơn vị dự toán quân đội) là tổ chức đơn vị sử dụng NSNN trong quân đội hoặc đơn vị dự toán ngân sách. 10 Nghị định số 10/2004/NĐ-CP ngày 07 tháng 01 năm 2004 của Chính phủ về thành lập ĐVDT trong BQP bao gồm: “ BQP là đơn vị dự toán cấp 1, quan hệ trực tiếp với Bộ Tài chính - Quân khu, Quân đoàn, Quân chủng, Binh chủng, Tổng cục và các đơn vị tương đương đóng vai trò các ĐVDT cấp 2, quan hệ trực tiếp với ĐVDT cấp 1 - Sư đoàn và đơn vị tương đương là ĐVDT cấp 3, quan hệ trực tiếp với ĐVDT cấp 2.
Đối với học viện, nhà trường trực thuộc Bộ là ĐVDT cấp 3, nhưng về quan hệ ngân sách được quan hệ trực tiếp với ĐVDT cấp 1 - Trung đoàn và đơn vị tương đương là ĐVDT cấp 4, quan hệ ngân sách trực tiếp với ĐVDT cấp 3. Trung đoàn độc lập là đơn vị cấp 4, được quan hệ trực tiếp với ĐVDT cấp 2. Các đơn vị cấp phân đội tương ứng cấp dự toán cơ sở”. Tài chính đơn vị dự toán quân đội Hệ thống tài chính trong quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay là tổng thể các mối quan hệ tài chính trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau của quân đội, nhưng hoàn toàn thống nhất về sự hình thành, phân phối và sử dụng các nguồn kinh phí nhất định với bộ máy quản lý tương ứng kèm theo.
Trong mỗi lĩnh vực hoạt động của quân đội sẽ có những quan hệ tài chính phát sinh để phù hợp với những lĩnh vực đó. Tài chính ĐVDT trực thuộc khu vực tài chính nhà nước, đồng thời bao gồm hệ thống các quan hệ kinh tế hình thành qua quá trình xây dựng và phát triển một số quỹ quốc phòng đảm bảo nhằm thực hiện tốt vai trò của quân đội góp phần giải quyết mọi nhu cầu thiết yếu nhất của nhân dân. “Công tác quản lý tài chính ĐVDT thực hiện nguyên tắc thanh toán không bồi hoàn tại chỗ nhằm đảm bảo nhu cầu sử dụng của đơn vị và không tùy thuộc vào việc quá trình phát triển của đơn vị có đưa thêm những khoản thu về NSNN hay không”. Quản lý tài chính ở đơn vị dự toán quân đội 11 Quản lý thường có thể coi là là một quá trình công nghệ thông tin được chủ thể quản lý vận hành qua cách dùng các phương pháp khoa học kỹ thuật cần thiết có thể ảnh hưởng và điều chỉnh được đối tượng quản lý hoạt động vận hành đúng với quy tắc chung nhằm tiến đạt được kết quả đã quyết định.