Chương 1: Lý luận chung về quản lý tài chính của trường Đại học. Chương 2: Thực trạng quản lý tài chính của Trường Đại học Thương Mại. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính của Trường Đại học Thương Mại 6 z CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1.CÁC QUAN NIỆM VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1. Vài nét cơ bản về giáo dục đại học.
Giáo dục là “Hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra”. Đại học là “Bậc học cao nhất trong hệ thống giáo dục” [22,tr83]. Giáo dục đại học hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cấp cao đẳng, cấp đại học và cấp sau đại học ( đào tạo thạc sỹ và đào tạo tiến sỹ), theo nghĩa hẹp GD ĐH chỉ bao gồm cấp đại học hoặc cấp đại học và cấp cao đẳng. Trong phạm vi luận văn thạc sỹ, GD ĐH được hiểu theo nghĩa gồm cấp cao đẳng, cấp đại học và cấp sau đại học.
Theo luật giáo dục Việt Nam, hệ thống giáo dục quốc dân gồm: - Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo. - Giáo dục phổ thông có hai bậc học là bậc tiểu học và bậc trung học, bậc trung học có hai cấp học là cấp trung học cơ sở và cấp trung học phổ thông. - Giáo dục nghề nghiệp có trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. - Giáo dục đại học đào tạo hai trình độ là trình độ cao đẳng và trình độ đại học, giáo dục sau đại học đào tạo hai trình độ là trình độ thạc sỹ và trình độ tiến sỹ.
Trong đó, đào tạo trình độ cao đẳng được thực hiện trong 3 năm đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp. Đào tạo đại học trình độ đại học được thực hiện từ 4 đến 6 năm tuỳ theo từng ngành học đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ 7 z thông hoặc bằng tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp, từ 1 đến 2 năm đối với người có bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng chuyên ngành. Như vậy, GD ĐH là bậc học cuối cùng trong hệ thống giáo dục quốc dân. Tuy nhiên, GD ĐH ngày nay đã mang những quan niệm mới: - GD ĐH là giáo dục sau trung học phổ thông.
Đây là quan niệm mới về giáo dục đại học của tổ chức văn hoá, giáo dục xã hội Liên hiệp quốc (UNESCO), được nhiều quốc gia thừa nhận. - GD ĐH đã mang tính đại trà, không còn giới hạn ở giáo dục tinh hoa như đại học truyền thống. Với quan niệm mới như vậy, GD ĐH thực chất là một hệ thống mở cho đào tạo đại học và làm cơ sở cho việc mở rộng các hình thức đào tạo mới như đào tạo từ xa, đại học mở. Đồng thời làm phong phú thêm các hoạt động GD ĐH (cung ứng GD ĐH, nội dung chương trình đào tạo, nguồn vốn đầu tư.
GD ĐH theo quan điểm mới có các đặc điểm sau: - GD ĐH luôn gắn với giáo dục dạy nghề, là giáo dục dạy nghề. Mỗi trường đại học đều có một danh mục ngành nghề cụ thể nhất định. Danh mục ngành nghề đào tạo ấy không cố định, khép kín mà có tính mở theo yêu cầu của đời sống xã hội. - GD ĐH luôn song hành cùng nghiên cứu khoa học.
Không nghiên cứu khoa học nghĩa là không phải và không còn là đại học. - GD ĐH mang đậm tính dân tộc, đồng thời cũng đậm tính quốc tế. Nó là đỉnh cao của dân tộc, là cửa ngõ để văn hoá, khoa học kỹ thuật quốc gia đến với thế giới và thế giới đến với nước ta. Chính vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà các nguyên thủ quốc gia khi đến thăm các nước thường tới thăm các trường đại học.
Vai trò của giáo dục đại học GD ĐH đóng vai trò quyết định đối với việc phát triển kinh tế tri thức. Kinh tế tri thức là kinh tế từ trí tuệ và của trí tuệ. Đại học là nơi khai mở trí tuệ của con người, nơi đó đánh thức tài năng của con người. Nếu giáo dục nơi đó tốt thì các bậc kỳ tài sẽ đưa nền kinh tế đi lên.
Nếu giáo dục nơi đó xấu chỉ biết rập khuân thì không có tri thức để phát triển kinh tế. Vì vậy GD ĐH quyết định việc phát triển kinh tế tri thức. Trong thế giới hiện nay, GD ĐH không chỉ thể hiện sự trưởng thành của người học về mức độ tri thức, mà còn là cơ hội để người học đạt được các mục tiêu nghề nghiệp cá nhân và hiệu quả kinh tế. Đứng trên bình diện cá nhân, GD ĐH cải tiến chất lượng cuộc sống của từng cá nhân chúng ta.
Hơn thế nữa, GD ĐH có tầm quan trọng vô cùng to lớn đối với xã hội nói chung. Nó mở ra cánh cửa cho sự hiểu biết của chúng ta đối với các mức độ phức tạp của xã hội hiện đại, và nó cho phép chúng ta đóng góp vào sự giàu mạnh của cộng đồng và dân tộc. GD ĐH không phải chỉ là lợi ích tư (private benefit), mà còn là lợi ích công vô cùng quí báu (public good). Một trong các chỉ số của một xã hội thịnh vượng là khi các công dân của xã hội đó tìm kiếm cơ hội giáo dục tốt hơn.
Ngày nay, sinh viên tốt nghiệp đại học các nhà lãnh đạo trong các doanh nghiệp, công ty tư nhân và chính phủ luôn hướng đến mục đích khai thác tối đa các lợi ích của GD ĐH. Điều này giúp cho họ phát huy mức độ hiệu quả của những gì họ học được ở đại học và cho phép họ phục vụ cho quyền lợi của dân tộc, và rộng lớn hơn, cho cả thế giới. GD ĐH hiện đại là một trong những thành tích vĩ đại nhất của nền văn minh nhân loại. Nhưng giá trị của GD ĐH không chỉ nằm trong các kiến thức chính xác và sâu sắc mà GD ĐH đem đến cho thế hệ trẻ, mà còn trong các giá trị đạo đức mà GD ĐH có thể giúp thế hệ trẻ đóng góp cho các tiến bộ xã hội khi họ ra trường và trở thành những người chín chắc và trưởng thành thực sự.
Alexander Griboyedov, một nhà soạn kịch Nga thế kỷ 19 đã từng nói: "Con 9 z người càng được giáo dục nhiều thì mức độ hữu dụng của họ đối với đất nước của họ càng tăng."[6,tr82] Ở ngưỡng cửa của thế kỷ 21, chúng ta cần phải có thêm vào một điều nữa là những người được giáo dục là của cải quý báu và có giá trị nhất của toàn bộ xã hội vốn đang hướng về sự toàn cầu hoá. Hiện nay, cộng đồng thế giới đang trải qua các chuyển đổi quan trọng trong chính trị, kinh tế, xã hội và quân sự. Cơ cấu ý thức xã hội đang không ngừng thay đổi. Các khái niệm cũng đang được chuyển đổi trong lúc thế giới đang trở nên có nhiều mâu thuẫn hơn.
Mối nguy hiểm của các mâu thuẫn quân sự cũng đang được thu nhỏ hơn, trong khi đó các mối đe doạ về các tai ương về sinh thái học có tính toàn cầu đang càng ngày càng tăng lên. Cùng lúc đó, những người sống trong các đất nước khác nhau càng ngày càng có nhiều cơ hội hợp tác với nhau trong các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, khoa học và văn hoá. Giáo dục cũng đang có nhiều thay đổi quan trọng. Giáo dục đang ngày càng trở thành một công cụ để đạt được sự tích hợp giữa xã hội và các nguồn sản xuất không thể thiếu được của cộng đồng thế giới.
Hợp tác quốc tế trong giáo dục có thể giải quyết và thậm chí có thể vượt qua được các mâu thuẫn chính trị giữa các dân tộc. Nó tạo điều kiện cho sự hiểu biết lẫn nhau và làm cho các dân tộc càng ngày càng gần nhau hơn. Đặc điểm về nguồn tài chính cho giáo dục đại học Chế độ tài chính trong trường đại học là một hệ thống các nguyên tắc, các quy định, quy chế, chế độ của Nhà nước mà hình thức biểu hiện là những văn bản pháp luật, pháp lệnh, nghị định., ngoài ra nó còn thể hiện qua các quy chế, quy định của trường đại học đối với các hoạt động tài chính của trường đại học. Các quy định này phải tuân theo các văn bản pháp quy của Nhà nước có liên quan tới các hoạt động tài chính của trường đại học.
Như vậy, tài chính trong trường đại học là sự vận động của đồng tiền để thực hiện mục tiêu 10 z phát triển, mục tiêu đào tạo. Bản chất của vấn đề đầu tư cho giáo dục đào tạo là đầu tư cho phát triển, cho sự hoàn thiện nhân cách con người. Quản lý tài chính trong trường đại học là quản lý việc thu chi một cách có kế hoạch, tuân thủ các chế độ tài chính, sư phạm đã quy định và tạo ra được hiệu quả chất lượng giáo dục. Quan niệm về quản lý tài chính của các Trƣờng đại học.
Các trường đại học là những đơn vị có thu trong đó có các trường công lập và các trường dân lập. Với đặc điểm, tính chất tổ chức hoạt động của các trường đại học nói chung và đại học công lập nói riêng là quản lý quá trình tiếp nhận, sử dụng, thanh quyết toán nguồn kinh phí Nhà nước cấp, quản lý hoạt động thu – chi tài chính và quản lý các loại tài sản, vật tư sử dụng phục vụ cho hoạt động giáo dục và đào tạo.NỘI DUNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA TRƢỜNG ĐẠI HỌC Trong bối cảnh thực hiện Chiến lược giáo dục 2001-2010, quản lý tài chính của trường đại học phải đáp ứng được các yêu cầu sau: - Thực hiện đúng chế độ chính sách hiện hành - Xác định và quản lý các khoản thu - Khai thác và quản lý các nguồn thu - Thanh quyết toán, báo cáo tài chính - Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có nghiệp vụ về tài chính Nội dung quản lý tài chính của trường đại học bao gồm: - Quản lý các nguồn thu của trường đại học. Trường đại học phải xác định đúng, đủ các nguồn thu theo quy định của Nhà nước, có kế hoạch khai thác các nguồn thu từ ngân sách Nhà nước và nguồn thu do nhà trường tự huy động được nhằm đáp ứng nhu cầu về tài chính của trường. - Quản lý chi tiêu của Trường đại học.