CHƯƠNG 1 NHUNG VAN DE CƠ BẢN VE NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ, SỬ DỤNG KINH PHÍ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH - SỰ NGHIỆP 1. Ngân sách nhà nước và đặc điểm của ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường 1. Một số van đề cơ bản về ngân sách nhà nước 1. Khái niệm và bản chất của ngân sách nhà nước Nhà nước hình thành gắn liền với sự phân hoá giai cấp trong xã hội, theo học thuyết Mác-Lê nin thì Nhà nước là một cơ quan thống tri của một giai cấp, là cơ quan quyền lực bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, đồng thời Nhà nước là một tổ chức công quyền thống nhất quản lý toàn xã hội về mọi mặt.
Đề thực hiện được chức năng, nhiệm vụ quản lý của mình, Nhà nước cần có đảm bảo vật chất và nguồn lực tài chính nhất định hay nói cách khác Nhà nước cần phải có ngân sách dé hoạt động. Như vay, NSNN được hình thành để đảm bảo nguồn lực tài chính phục vụ cho hoạt động của Nhà nước. Luật ngân sách Nhà nước được Quốc hội thông qua ngày l6 tháng 12 năm 2002 đã quy định: ”Ngán sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyén quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước ”. Nhà nước trong mọi hình thái xã hội đều mang tính chất giai cấp.
Nhà nước sử dụng quyền lực của Nhà nước để nắm kinh tế và dùng kinh tế để duy trì quyền lực của giai cấp mình. Do NSNN gắn với một Nhà nước cụ thé, gắn với một chế độ chính trị nhất định và là công cụ cơ bản dé thực hiện các chức năng của Nhà nước nên NSNN cũng mang tính giai cấp. Bản chất của NSNN gắn liền với bản chất của Nhà nước sinh ra ngân sách đồng thời cũng là đối tượng để ngân sách phục vụ. NSNN là nền tảng vật chất có vai trò quyết định sự tồn tại, phát triển của Nhà nước.
NSNN đảm bảo nguồn lực tài chính để Nhà nước duy trì bộ máy cai trị bảo vệ quyền lực Nhà nước gồm các cơ quan hành chính, quân đội, cảnh sát, toà án. Đồng thời, NSNN cũng là nguồn lực cơ bản để Nhà nước thực hiện vai trò quản lý kinh tế xã hội, đầu tư thúc đẩy phát triển các lĩnh vực kinh tế - xã hội như: nông nghiệp, thuỷ lợi, công nghiệp, giao thông, thương mại, y tế, giáo dục. Trong thực tế luôn luôn tồn tại mâu thuẫn giữa Nhà nước với các chủ thể kinh tế trong xã hội trong việc huy động một phần nguồn thu nhập của họ vào NSNN. Để giải quyết mâu thuẫn này, đáp ứng yêu cầu về chỉ tiêu của Nhà nước, Nhà nước đã sử dụng quyền lực của Nhà nước để quy định hệ thống pháp luật tài chính và thuế khoá bắt buộc mọi pháp nhân và thể nhân trong xã hội phải nộp một phần thu nhập của mình cho Nhà nước.
Xuất phát từ tính giai cấp của NSNN nên NSNN của bất kỳ quốc gia nào cũng đều do cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất quyết định. Các khoản thu, chỉ của NSNN đều được quy định rõ bằng hệ thống pháp luật, các khoản chỉ của ngân sách đều nhằm duy trì quyền lực của Nhà nước, đảm cho Nhà nước thực hiện các chức năng quản lý kinh tế, chính trị, xã hội của mình. Thu NSNN bao gồm: các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Thu NSNN thé hiện mối quan hệ giữa Nhà nước với các tổ chức và cá nhân trong xã hội trong việc các tô chức và cá nhân thực hiện nghĩa vụ đóng góp theo luật định một phần thu nhập của họ nộp vào NSNN và các nguồn đóng góp này sẽ không được hoàn trả trực tiếp.
Thông qua việc Nhà nước quy định đối tượng điều tiết, nội dung hoạt động kinh tế phải điều tiết và tỷ lệ điều tiết cho thấy ngoài việc tham gia vào phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân, tăng nguồn thu vào ngân sách, chính sách thu ngân sách còn có tác động tới việc thực hiện chính sách khuyến khích phát triển, thu hẹp đối với hoạt động sản xuất kinh doanh, đối với từng thành phần kinh tế trong từng lĩnh vực, từng ngành nghề. Chi NSNN bao gồm: các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy Nhà nước; chỉ trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.Ch¡ NSNN ngoài việc đảm bảo duy trì hoạt động của bộ máy quản lý hành chính Nhà nước, duy trì quyền lực của giai cấp thống trị, phát triển kinh tế - xã hội, còn thực hiện chính sách phâp phối lại thu nhập giữa người giầu với người nghèo, chính sách phát triển con người, thực hiện bảo trợ xã hội. Hoạt động thu, chỉ NSNN được tiến hành rất đa dạng và phong phú trên hau hết các lĩnh vực đời sống, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh. và tác động đến mọi chủ thể xã hội.
Thu, chỉ NSNN bên cạnh việc đem lại các kết quả trực tiếp như đã trình bày ở trên còn có tác dụng trong việc điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế. Hoạt động thu, chỉ ngân sách vừa tác động trực tiếp vừa gián tiếp tới một số cân đối lớn của nền kinh tế như: cân đối tích luỹ và tiêu dùng, cơ cấu chỉ đầu tư phát triển và chỉ thường xuyên, đồng thời tạo lập môi trường kinh tế ôn định làm tiền đề khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động kinh tế của đất nước. Hoạt động thu, chỉ của NSNN được hiểu là hoạt động phân phối các nguồn tài chính, là quá trình giải quyết quyền lợi kinh tế giữa Nhà nước và xã hội, với kết quả là các nguồn tài chính được chia thành hai phan: phần nộp vào NSNN va phan để lại cho các thành viên của xã hội. Phan nộp vào NSNN sẽ tiếp tục được phân phối lại, thể hiện qua các khoản chỉ từ ngân sách cho các mục đích tiêu dùng và đầu tư.
Sự tham gia của NSNN vào quá trình phân phối các nguồn tài chính làm xuất hiện các quan hệ tài chính. Hệ thống các quan hệ tài chính là sự thể hiện bản chất của NSNN; dưới các hình thức cụ thể, đó là các mối quan hệ như sau: Thứ nhất, quan hệ tài chính giữa Nhà nước và các doanh nghiệp, trong đó Nhà nước ban hành chính sách huy động một phần thu nhập tài chính của doanh nghiệp vào NSNN; nhà nước tái đầu tư lại cho doanh nghiệp dưới hình thức trực tiếp và gián tiếp và tạo dựng môi trường tài chính cần thiết để doanh nghiệp hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật. Thứ hai, quan hệ giữa NSNN với các cơ quan quản lý nhà nước trong các lĩnh vực hành chính, sự nghiệp giáo dục, sự nghiệp y tế và thực hiện nhiệm vụ an ninh quốc phòng. thể hiện trong mối quan hệ phân phối lại nguồn thu từ NSNN dé các cơ quan này chỉ tiêu, thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước trong các lĩnh vực được phân công quản lý.
Thứ ba, quan hệ giữa NSNN với hộ gia đình và dân cư. Mối quan hệ này được thé hiện đưới hình thức dan cư làm nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước thông qua đóng các khoản nộp thuế, phí và các khoản đóng góp khác, đồng thời dân cư được hưởng các lợi ích xã hội thông qua chỉ NSNN cho đầu tư cho các công trình phúc lợi xã hội như cơ sở hạ tầng giao thông, liên lạc, thuỷ lợi, y tế, giáo dục đào tạo, hoặc được hưởng trợ cấp trực tiếp khi gặp thiên tai, dịch bệnh. Thứ tư, quan hệ giữa NSNN và thị trường tài chính. Chi tiêu của NSNN có ảnh hưởng và tác động gián tiếp đến thị trường tiền tệ và cung cầu về vốn trên thị trường tài chính.
Ngoài ra NSNN còn có thể tham gia trực tiếp vào thị trường tài chính thông qua việc phát hành các trái phiếu vay nợ hoặc bán nợ trực tiếp trên thị trường tài chính. Tóm lại, cơ sở lý luận và thực tiễn đều cho thấy NSNN là không thể thiếu được đối với một Nhà nước. Nhà nước luôn là chủ thể thường xuyên và chủ thể có quyền lực trong việc huy động và phân phối các nguồn tài chính 10 quốc gia. Trong mối quan hệ NSNN để thực hiện quá trình phân phối, lợi ích mà Nhà nước hướng tới chủ yếu là các lợi ích về kinh tế để phục vụ các mục tiêu chính trị.
Do đó bản chất của NSNN là hệ thống các mối quan hệ kinh tế và xã hội phát sinh trong qúa trình Nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức năng quản lý và điều hành nền kinh tế - xã hội của mình. Những đặc trưng chủ yếu của ngân sách nhà nước NSNN là sự phối hợp giữa hai quá trình thu và chỉ, hay tạo lập và sử dụng nguồn lực tài chính của Nhà nước dé thực hiện chức năng quản lý của Nhà nước, là một trong những công cụ đề điều chỉnh kinh tế vĩ mô và vi mô của nền kinh tế trên tất cả các lĩnh vực, xã hội và thị trường. Do đó NSNN có một số đặc trưng chủ yếu như sau: về mặt kinh tế: NSNN có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tạo điều kiện cho nền kinh tế thị trường phát triển theo đúng định hướng của Nhà nước đã vạch ra, ngoài ra nó còn có tác dụng khắc phục những khuyết tật vốn có của kinh tế thị trường. Nhà nước sử dụng công cụ ngân sách để định hướng và hình thành một cơ cấu kinh tế mới đảm bảo thúc day nền kinh tế phát triển cân đối, bền vững, chống độc quyền, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và các nguồn lực khác.
Thông qua chính sách thu NSNN, Nhà nước tạo điều kiện cho các ngành kinh tế mũi nhọn phát triển, thực hiện các chính sách tài chính hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội tại các vùng, khu vực, ngành nghề, lĩnh vực cần khuyến khích đầu tư. Thông qua chính sách chỉ NSNN, Nhà nước đầu tư cơ sở hạ tang kinh tế như: giao thông, công nghệ thông tin, cải tạo môi trường. để tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp ra đời và phát triên.