CHƯƠNG 1 ----------- LÝ LUẬN CHUNG VỀ TIỀN LƯƠNG VÀ QUỸ TIỀN LƯƠNG 1.1 Khái quát về tiền lương 1.1 Khái niệm tiền lương: Tiền lương là một phạm trù kinh tế được hiểu là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động khi họ hoàn thành một công việc nào đó. Tại điều 55, chương VI “Tiền lương” của bộ luật lao động ban hành năm 1994 có ghi “Tiền lương của người lao động do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động và trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc”. Tiền lương phản ánh nhiều mối quan hệ kinh tế xã hội khác nhau. Tiền lương trước hết là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động.
Đó là mối quan hệ kinh tế của tiền lương, mặt khác do tính chất đặc biệt của loại hàng hóa sức lao động mà tiền lương không chỉ thuần túy là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề xã hội rất quan trọng liên quan đến đời sống và trật tự xã hội. Trong các hoạt động sản xuất và kinh doanh, đối với các chủ doanh nghiệp, tiền lương là một phần chi phí cấu thành chi phí sản xuất kinh doanh. Do đó, tiền lương phải được tính toán và quản lý chặt chẽ. Đối với người lao động, tiền lương là một phần thu nhập từ quá trình lao động của họ, thu nhập chủ yếu đối với đa số lao động trong xã hội có ảnh hưởng trực tiếp tới mức sống của họ.
Phấn đấu nâng cao tiền lương là mục tiêu của mọi người lao động. Mục tiêu này tạo động lực để họ phát triển trình độ và khả năng lao động của mình. Tóm lại, tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, là giá cả sức lao động mà người sử dụng sức lao động phải trả cho người cung ứng nó, tuân theo quy luật cung cầu, giá cả thị trường và pháp luật hiện hành của nhà nước.2 Bản chất, chức năng của tiền lương.1 Bản chất của tiền lương. Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung tiền lương có đặc điểm như sau: Tiền lương không phải giá cả sức lao động, không phải là hàng hóa cả trong khu vực sản xuất kinh doanh cũng như quản lý nhà nước xã hội.
Bởi vì, với cơ chế này tất cả mọi hoạt động dựa trên cơ sở “Xin - cho” người lao động làm nhiều hay ít, hiệu quả hay không cũng thường bị đánh đồng, trả lương ngang nhau. Tiền lương là một khái niệm thuộc phạm trù phân phối, tuân thủ những nguyên tắc của quy luật phân phối. Với xuất xứ từ những quan điểm trên nên: Tiền lương được hiểu là một phần thu nhập quốc dân biểu hiện dưới hình thức tiền tệ, được nhà nước phân phối có kế hoạch cho công nhân- viên chức lao động phù hợp với số lượng và chất lượng lao động của mỗi người đã cống hiến. Tiền phản ánh việc trả lương cho công nhân viên chức lao động dựa trên nguyên tắc phân phối theo lao động.
Tiền lương được phân phối công bằng theo số lượng, chất lượng lao động của người lao động đã hao phí và được kế hoạch hóa từ trung ương đến cơ sở, được nhà nước thống nhất quản lý. Khi quyết tâm xóa bỏ cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng với sự thay đổi về tư duy kinh tế thì khái niệm về tiền lương được nhận thức lại, được hiểu một cách khái quát hơn đó là: Tiền lương chính là giá cả sức lao động, là khái niệm thuộc phạm trù kinh tế- xã hội, tuân thủ các nguyên tắc cung cầu, giá cả thị trường và pháp luật hiện hành của nhà nước xã hội chủ nghĩa. 4 Đi cùng với khái niệm tiền lương còn có các loại tiền lương danh nghĩa, tiền lương thực tế, tiền lương tối thiểu, tiền lương kinh tế,… Tiền lương danh nghĩa là số lượng tiền mà người lao động nhận từ người sử dụng lao động, thông qua hợp đồng thỏa thuận giữa hai bên, theo quy định của pháp luật. Thực tế cho thấy, mọi hình thức trả lương cho người lao động đều là tiền lương danh nghĩa.
Tiền lương thực tế xác nhận bằng khối lượng hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ mà người lao động nhận được qua tiền lương danh nghĩa. Tiền lương thực tế được xác định từ tiền lương danh nghĩa bằng công thức: I LDN I LTT IG Trong đó: ILTT: Chỉ số tiền lương thực tế. ILDN: Chỉ số tiền lương danh nghĩa IG : Chỉ số giá Tiền lương tối thiểu: theo quy định 197/CP của chính phủ ngày 31/12/1994 về việc thi hành bộ luật lao động ghi rõ: “Mức lương tối thiểu là mức lương của người lao động làm công việc đơn giản nhất, (không qua đào tạo, còn gọi là lao động phổ thông), với điều kiện lao động và môi trường bình thường”. Đây là mức lương thấp nhất mà nhà nước quy đinh cho các doanh nghiệp và các thành phần kinh tế trả cho người lao động.
Tiền lương cấp bậc: là số lượng tiền được quy định phụ thuộc vào cấp bậc của người lao động theo bảng lương quy định, không bao gồm các khoản trả thêm khác. 5 Phụ cấp lương: là những khoản bổ sung ngoài tiền lương cấp bậc, nó thường được quy định dưới dạng hệ số phụ cấp hoặc phần trăm tăng thêm so với tiền lương tối thiểu hoặc tiền lương cấp bậc. Tiền lương cơ bản: là tiền lương bao gồm cả tiền lương cấp bậc và các khoản phụ cấp lương. Tiền lương cơ bản dùng để tính đóng bảo hiểm xã hội 1.2 Chức năng của tiền lương.1 Chức năng thước đo giá trị của sức lao động.
Tiền lương là giá cả sức lao động, biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động. Vì thế, tiền lương phải là thước đo giá trị sức lao động, phản ánh giá trị sức lao động. Đây là một trong những chức năng quan trọng của tiền lương. Do vậy, để thực hiện chức năng này, tiền lương phải được xác định trên cơ sở giá trị sức lao động, khi giá trị sức lao động thay đổi thì tiền lương cũng phải thay đổi theo.2 Chức năng tái sản xuất sức lao động.
Trong quá trình lao động, sức lao động của con người bị tiêu hao. Để bù đắp phần sức lao động bị tiêu hao, duy trì quá trình lao động tiếp theo con người phải tiêu phí một số tư liệu sinh hoạt nhất định. Tái sản xuất sức lao động chính là khôi phục lại sức lao động đã mất. Chính vì vậy, nếu chức năng này không được thực hiện, khả năng làm việc của người lao động sẽ ngày bị giảm sút, sức khỏe ngày càng suy giảm sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình sản xuất.3 Chức năng tạo động lực với người lao động.
Để thực hiện tốt chức năng này thì tiền lương phải là phần thu chủ yếu trong tổng số thu nhập của người lao động. Có như thế, người lao động mới dành sự quan tâm vào công việc nghiên cứu tìm tòi sáng tạo, cải tiến máy móc thiết bị và quy trình công nghệ, nâng cao trình độ tay nghề làm cho hiệu quả kinh tế cao. Chức năng kích thích và thúc đẩy phân công lao động xã hội. Khi tiền lương là động lực để người lao động hăng hái làm việc thì năng suất lao động tăng lên.
Đây là tiền đề cho việc phân công lao động xã hội một cách đầy đủ hơn. Người lao động sẽ được phân công làm những công việc thuộc sở trường của họ. Ngoài các chức năng trên, tiền lương còn góp phần làm cho việc quản lý lao động trong đơn vị trở nên dễ dàng hơn và tiền lương còn góp phần hoàn thiện mối quan hệ xã hội giữa con người với con người trong quá trình lao động. Xây dựng và quản lý quỹ tiền lương.
Quỹ tiền lương. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp muốn tạo ra được sản phẩm, dịch vụ thì cần có sự hiện hiện diện của người lao động. Người lao động bằng tài năng, trí tuệ của mình sử dụng các tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ cho doanh nghiệp. Thêm vào đó, doanh nghiệp muốn sử dụng lao động thì phải trả lương cho họ một cách hợp lý.
Do vậy, một trong những nhiệm vụ hàng đầu, quan trong nhất trong lĩnh vực tiền lương trong từng cơ quan, doanh nghiệp là phải hình thành nguồn chi trả lương và mức dự báo khả năng chi trả trên cơ sở xây dựng và quản lý chặt chẽ quỹ tiền lương. Quỹ tiền lương là tổng số tiền để trả cho người lao động ở cơ quan, doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định theo số lượng và chất lượng lao động mà họ cống hiến. Thành phần quỹ lương của doanh nghiệp bao gồm các khoản chủ yếu sau: 7 Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian thực tế làm việc (theo thời gian, theo sản phẩm). Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian nghỉ phép hoặc đi học.
Các khoản tiền thưởng trong sản xuất, các khoản phụ cấp thường xuyên (phụ cấp khu vực, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp học nghề, phụ cấp thâm niên, phụ cấp làm thêm, làm đêm,…), các khoản bổ sung thêm khác như những công việc hợp đồng ngoài kế hoạch dự tính trước, những lao động phải thuê bổ sung theo yêu cầu của sản xuất, các khoản dự phòng. Quỹ lương có thể được phân loại như sau: Căn cứ vào mức độ ổn định của các bộ phận trong quỹ chia ra làm: - Quỹ lương cố định. - Quỹ lương biến đổi. Căn cứ vào đối tượng trả lương chia ra: - Quỹ lương trực tiếp của lao động trực tiếp (công nhân).
- Quỹ lương của người lao động gián tiếp (cán bộ quản lý, phục vụ). Căn cứ vào sự hình thành và sử dụng quỹ lương: - Quỹ lương kế hoạch. - Quỹ lương thực tế. Căn cứ vào đơn vị thời gian: quỹ lương giờ, quỹ lương ngày, quỹ lương tháng và quỹ lương năm.
Căn cứ vào loại hình và phạm vi hoạt động của tổ chức quỹ lương được chia ra: Quỹ lương của đơn vị hành chính, Quỹ lương của các đơn vị hành chính sự nghiệp có thu và quỹ lương của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. 8 Việc xây dựng quỹ lương kỳ kế hoạch là cần thiết đối với mỗi cơ quan, doanh nghiệp. Để xây dựng quỹ lương kỳ kế hoạch bên cạnh tính toán các nhân tố ảnh hưởng đến tiền lương cần nắm vững và vận dụng đúng các văn bản quy định của Nhà nước về tiền lương nói chung và xây dựng quỹ tiền lương nói riêng. Một số nhân tố ảnh hưởng tới quỹ tiền lương.