PHẦN MỞ ĐẦU - CH NG 1: Tổng quan về dự án và quản lý dự án xây dựng công trình - CH NG 2: Thực trạng công tác quản lý quá trình thi công xây dựng công trình tại công ty cổ phần BETON 6 - CH NG 3: Một số giải pháp hoàn thiện quản lý quá trình thi công xây dựng công trình - KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ - TÀI LIỆU THAM KHẢO 4 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 1.1 TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 1.1 Khái niệm, phân loại dự án xây dựng công trình 1.1 Khái niệm án x y ng c ng tr n một n v c o t động đặc t , một n mv c np ả đ ct c nv p ng p áp r ng, ngu n c r ng v t eo một o c t g an đ c xác địn n ằm t o ra một công trình x y ng m ay cả t o c ng tr n x y ng c. Khái niệm này nhấn mạnh các đặc trưng: - P ương p áp r êng, nguồn lực r êng: Sản phẩm là công trình xây dựng là sản phẩm mang tính đơn chiếc, mới lạ khác biệt so với những sản phẩm tương tự đã có hoặc dự án khác. Khác với quá trình sản xuất liên tục và gián đoạn, kết quả của dự án công trình xây dựng không phải là sản phẩm sản xuất hàng loạt, mà có tính khác biệt cao; là duy nhất, hầu như không lặp lại như Kim tự tháp ở Ai Cập hay Vạn Lý Trường Thành ở Trung Hoa.
Tuy nhiên, ở nhiều các dự án công trình xây dựng khác, tính duy nhất ít r ràng hơn và dễ bị che đậy bởi tính tương tự về hình dáng giữa chúng. Nhưng điều khẳng định là chúng v n có thiết kế khác nhau, vị trí khác nhau, khách hàng khác nhau. - T eo một kế oạc t ờ g an được xác địn : Mọi dự án công trình xây dựng đều có điểm bắt đầu và kết thúc xác định. Dự án có thời gian tồn tại từ lúc khởi đầu và kết thúc khi mục tiêu của dự án đã đạt được hoặc dự án bị loại bỏ.
5 Dự án trải qua các giai đoạn: hình thành, phát triển, kết thúc; có thời điểm bắt đầu, kết thúc. - Có mục đíc , kết quả xác địn : Tất cả các dự án đều phải có kết quả được xác định r. Kết quả này có thể là cải tạo một tòa nhà, hay xây dựng mới một nhà máy sản xuất hiện đại. Nguồn lực Giai đoạn Giai đoạn Giai đoạn hình thành phát triển Kết thúc Giai đoạn Khởi đầu Kết thúc n -1 Các g a đoạn p át tr ển của dự án xây dựng 1.2 Phân loại dự án xây dựng công trình a.
P ân loạ t eo quy mô và tín c ất dự án Theo quy mô và tính chất quan trọng có: - Dự án xây dựng công trình quan trọng quốc gia - Dự án xây dựng công trình nhóm A, B, C. Tiêu chí phân loại được quy định trong Nghị định 12/2009/NĐ-CP. P ân loạ t eo nguồn vốn đầu tư Gồm 04 loại: - Dự án xây dựng công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước 6 - Dự án xây dựng công trình sử dụng vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển nhà nước. - Dự án xây dựng công trình sử dụng vốn đầu tư phát triển doanh nghiệp, các thành phần kinh tế khác.
- Dự án xây dựng công trình sử dụng vốn khác (bao gồm cả vốn tư nhân, vốn hỗn hợp) Việc phận loại này đưa ra làm cơ sở trong việc quản lý nhà nước đối với từng loại dự án, xem thử nhà nước được quyền can thiệp đến đâu về các vấn đề bằng cách đưa ra các quy định như: Người quyết định đầu tư là ai? Chủ đầu tư là cơ quan nào? Dự án phải qua mấy bước? Quy định về nội dung lập, thẩm định, phê duyệt dự án như thế nào? Xếp loại năng lực các tổ chức, cá nhân lập dự án ra sao?. và cả với nguồn vốn tư nhân, chủ đầu tư tự quyết định hình thức và nội dung quản lý dự án. P ân loạ t eo công năng sử dụng Theo nghị định 209/2004 thì công trình xây dựng được phân thành 5 loại: - Công trình dân dụng - Công trình công nghiệp - Công trình giao thông - Công trình thủy lợi - Công trình hạ tầng kỹ thuật. Loại công trình dùng để xếp hạng và phân loại nhà thầu.2 Mục tiêu, Bản chất của dự án xây dựng 1.1 Mục tiêu c tiêu c a d án x y ng c ng tr n t o ra các c ng tr n x y ng t c n o n t n ( ao g m cả v c p đặt t t ị c ng ng n trong) n ằm g a tăng c s vật c t n t địn đ đ t đ c s tăng tr ng về s ng oặc uy tr cả t n, n ng cao c t ng c a sản p m oặc ịc v trong oảng t g an xác địn 7 1.2 Bản chất Dự án công trình xây dựng là kết hợp của các thành quả khoa học - công nghệ và tổ chức sản xuất của toàn xã hội ở một thời kỳ nhất đinh.
Nó là một sản phẩm có tính chất liên ngành, trong đó những lực lượng tham gia chế tạo sản phẩm chủ yếu: các chủ đầu tư, các doanh nghiệp nhận thầu xây lắp, các doanh nghiệp tư vấn xây dựng, các doanh nghiệp sản xuất thiết bị công nghệ, vật tư thiết bị xây dựng, các doanh nghiệp cung ứng, các tổ chức dịch vụ ngân hàng và tài chính, các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan. Dự án xây dựng công trình hàm chứa bản chất lưỡng tính: một mặt dự án xây dựng công trình là tập hợp các hồ sơ và bản vẽ thiết kế, trong đó bao gồm các tài liệu pháp lý, quy hoạch tổng thể, kiến trúc, kết cấu, công nghệ tổ chức thi công v.v… về mặt khoa học kỹ thuật; mặt khác, đây là môi trường hoạt động kinh doanh phù hợp với những mục đích đã được đặt ra, nghĩa là một quá trình xây dựng có định hướng đối với các công trình mới hoặc cải tạo đối với các công trình hiện hữu đang sản xuất. Tóm lại, dự án xây dựng được hiểu như một phạm vi hoạt động sáng tạo hoặc thay đổi cả những chức năng hoạt động của công trình, hệ thống sản xuất, công nghệ kỹ thuật, môi truờng… cũng như sự hình thành toàn thể từ quan điểm thống nhất của các mục tiêu, địa điểm và thời gian thực hiện.3 Đặc điểm của dự án xây dựng công trình Ngành xây dựng có những đặc thù nếu được xem xét riêng thì cũng có ở các ngành khác, nhưng khi kết hợp chúng lại thì ch xuất hiện trong ngành xây dựng. Những đặc điểm sản phẩm xây dựng có ảnh hưởng lớn đến phương thức tổ chức sản xuất và quản lý kinh tế trong ngành xây dựng, làm cho việc thi công xây lắp công trình xây dựng có nhiều điểm khác biệt so với việc thi công các sản phẩm của các ngành khác.
Sản phẩm xây dựng với tư cách là các công trình xây dựng hoàn ch nh thường có đặc điểm sau: 8 Sản phẩm mang nhiều tính cá biệt, đa dạng về công dụng, cấu tạo và cả về phương pháp chế tạo. Sản phẩm mang tính đơn chiếc vì phụ thuộc vào đơn đặt hàng của chủ đầu tư, điều kiện địa lý, địa chất công trình nơi xây dựng. Sản phẩm là những công trình được xây dựng và sử dụng tại chỗ. Vốn đầu tư xây dựng lớn, thời gian kiến tạo và thời gian sử dụng lâu dài.
Do đó, khi tiến hành xây dựng phải chú ý ngay từ khi lập dự án để chọn địa điểm xây dựng, khảo sát thiết kế và tổ chức thi công xây lắp công trình sao cho hợp lý, tránh phá đi làm lại, hoặc sửa chữa gây thiệt hại vốn đầu tư và giảm tuổi thọ của công trình. Sản phẩm thường có kích thước lớn, trọng lượng lớn. Số lượng, chủng loại vật tư, thiết bị xe máy thi công và lao động phục vụ cho mỗi công trình cũng rất khác nhau, lại luôn thay đổi theo tiến độ thi công. Bởi vậy giá thành sản phẩm rất phức tạp thường xuyên thay đổi theo từng khu vực, từng thời kỳ.
Sản phẩm có liên quan đến nhiều ngành cả về phương diện cung cấp các yếu tố đầu vào, thiết kế và chế tạo sản phẩm, cả về phương diện sử dụng công trình. Sản phẩm xây dựng liên quan đến nhiều cảnh quan và môi trường tự nhiên, do đó liên quan đến lợi ích của cộng đồng, nhất là đến dân cư của địa phương nơi đặt công trình. Sản phẩm mang tính tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế, xã hội, văn hóa - nghệ thuật và quốc phòng. Sản phẩm chịu nhiều ảnh hưởng của nhân tố thượng tầng kiến trúc, mang bản sắc truyền thống dân tộc, thói quen tập quán sinh hoạt… Có thể nói: “ sản phẩm xây dựng phản ánh trình độ kinh tế khoa học - kỹ thuật và văn hóa trong từng giai đoạn phát triển một đất nước”.
Sản phẩm xây dựng thuộc phần kết cấu nâng đỡ, bao che, không trực tiếp tác động tới đối tượng lao động trong quá trình sản xuất sản phẩm. Đặc điểm này đòi hỏi người thiết kế phải chọn những giải pháp kết cấu, giải pháp bố cục mặt bằng hợp lý, tiết kiệm.2 QUẢN LÝ DỰ ÁN XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 1.1 Khái niệm và mục tiêu của Quản lý dự án xây dựng công trình 1.