Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Chợ truyền thống là một bộ phận cấu thành trọng yếu trong hạ tầng thương mại của Việt Nam, giữ vai trò chủ đạo trong việc kết nối sản xuất với tiêu dùng, đặc biệt tại khu vực nông thôn nơi chiếm hơn 70% dân số cả nước theo số liệu của Cục Dân số và Kế hoạch hóa gia đình. Mặc dù các loại hình phân phối hiện đại như siêu thị, trung tâm thương mại và cửa hàng tiện lợi ngày càng phát triển, chợ vẫn là kênh lưu thông hàng hóa thiết yếu phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của đại bộ phận dân cư.
Tỉnh Hải Dương nằm ở trung tâm đồng bằng sông Hồng, thuộc Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, sở hữu mạng lưới chợ truyền thống được hình thành và duy trì qua nhiều giai đoạn lịch sử. Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh tại các chợ trên địa bàn tỉnh còn bộc lộ nhiều hạn chế xuất phát từ các nguyên nhân thực tiễn:
- Nhiều điểm chợ hình thành tự phát, phân bố không đồng đều giữa các khu vực, gây khó khăn cho công tác kiểm soát và điều chỉnh theo quy định pháp luật.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật phần lớn đã xuống cấp sau 30-40 năm khai thác, nguồn vốn đầu tư công và xã hội hóa còn hạn hẹp; công tác xử lý rác thải, thoát nước chưa đảm bảo gây ô nhiễm môi trường và tiềm ẩn nguy cơ mất vệ sinh an toàn thực phẩm; hệ thống phòng cháy chữa cháy (PCCC) chưa đáp ứng yêu cầu kỹ thuật.
- Chính sách và cơ chế quản lý chợ chưa đồng bộ với quy hoạch phát triển thương mại của tỉnh; việc phân cấp quản lý còn nới lỏng; ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận tiểu thương và người tiêu dùng còn hạn chế.
Trước bối cảnh đó, khóa luận xác lập các mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu nhằm làm rõ thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước (QLNN) đối với hoạt động kinh doanh (HĐKD) tại các chợ trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
- Về lý luận: Hệ thống hóa cơ sở lý luận và khung pháp lý về QLNN đối với HĐKD tại chợ; làm rõ thẩm quyền, nội dung quản lý của chính quyền địa phương và các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, huyện, xã.
- Về thực tiễn:
- Phân tích nội dung và biện pháp quản lý của các cơ quan chức năng tỉnh Hải Dương giai đoạn 2011-2013 dựa trên các quy định của Trung ương.
- Khảo sát việc thực hiện quy định kinh doanh của các thương nhân và cán bộ quản lý chợ trên địa bàn.
- Đánh giá kết quả đạt được, chỉ ra các hạn chế và nguyên nhân cốt lõi trong công tác quản lý chợ của địa phương.
- Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị có căn cứ thực tiễn nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về chợ trong giai đoạn tiếp theo.
Câu hỏi nghiên cứu trọng tâm:
- Khái niệm, bản chất và nội dung của QLNN đối với HĐKD tại chợ được quy định như thế nào?
- Hệ thống chính sách và công cụ quản lý chợ của tỉnh Hải Dương đã được ban hành và thực thi ra sao trong giai đoạn 2011-2013?
- Hoạt động phối hợp liên ngành giữa Sở Công Thương, các sở ban ngành và chính quyền các cấp tại Hải Dương đạt được kết quả và gặp phải những vướng mắc gì?
- Cần triển khai các giải pháp cụ thể nào về thể chế, đầu tư, mô hình quản lý và thanh tra kiểm tra để khắc phục các tồn tại hiện nay?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động kinh doanh thương mại gắn với đầu tư phát triển chợ; hệ thống công cụ, chính sách và hoạt động quản lý của cơ quan nhà nước các cấp tác động đến thương nhân và người tiêu dùng tại chợ.
- Phạm vi không gian: Hệ thống chợ và các cơ quan quản lý nhà nước liên quan (Sở Công Thương, UBND các huyện, thị xã, thành phố và UBND cấp xã) trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu thực trạng thu thập trong giai đoạn 3 năm 2011-2013; định hướng và giải pháp đề xuất cho năm 2014 và giai đoạn đến năm 2020.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào công tác quy hoạch, mô hình tổ chức quản lý khai thác, quản lý điểm kinh doanh, quản lý mặt hàng, vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm, phòng chống cháy nổ và công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm kinh tế thương mại, khoa học quản lý hành chính công và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của Việt Nam:
Khung lý thuyết và khái niệm:
- Khái niệm chợ: Tiếp cận theo Đại Từ điển tiếng Việt (NXB Văn hóa Thông tin, 2004, tr.155) và Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 của Chính phủ. Chợ được định nghĩa là loại hình kinh doanh thương mại truyền thống, được tổ chức tại một địa điểm theo quy hoạch nhằm đáp ứng nhu cầu trao đổi hàng hóa và tiêu dùng của khu vực dân cư.
- Tiêu chuẩn phân hạng chợ: Căn cứ Nghị định số 11/VBHN-BCT ngày 23/01/2013 của Bộ Công Thương:
- Chợ hạng 1: Có trên 400 điểm kinh doanh, công trình xây dựng kiên cố, hiện đại theo quy hoạch, đặt tại trung tâm kinh tế - thương mại hoặc là chợ đầu mối vùng/ngành hàng, tổ chức đầy đủ các dịch vụ hạ tầng kỹ thuật.
- Chợ hạng 2: Có từ 200 đến 400 điểm kinh doanh, xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố, tổ chức các dịch vụ thiết yếu tối thiểu.
- Chợ hạng 3: Có dưới 200 điểm kinh doanh hoặc chưa được xây dựng kiên cố/bán kiên cố, phục vụ dân cư xã, phường và vùng phụ cận.
- Quy chuẩn kỹ thuật: Điểm kinh doanh tiêu chuẩn có diện tích tối thiểu 3m²; chợ kiên cố có niên hạn sử dụng trên 10 năm; chợ bán kiên cố có niên hạn từ 5 đến 10 năm (theo TCVN 9211:2012 Chợ - Tiêu chuẩn thiết kế).
- Nội dung quản lý nhà nước về chợ: Gồm quy hoạch mạng lưới; ban hành cơ chế chính sách; phân cấp quản lý tài sản; hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ cho Ban quản lý (BQL) và doanh nghiệp khai thác; tuyên truyền pháp luật; thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm.
- Mô hình quản lý chợ: Gồm mô hình BQL chợ (đơn vị sự nghiệp có thu, có tư cách pháp nhân, tài khoản riêng tại Kho bạc Nhà nước) và mô hình Doanh nghiệp/Hợp tác xã kinh doanh khai thác và quản lý chợ theo Luật Doanh nghiệp và Luật Hợp tác xã.
- Văn bản pháp lý điều chỉnh chuyên ngành:
- Luật An toàn thực phẩm số 55/2010/QH12 ngày 17/06/2010.
- Quyết định số 772/2003/QĐ-BTM ngày 24/06/2003 của Bộ Thương mại về việc ban hành Nội quy chợ mẫu.
- Thông tư số 02/2014/TT-BTC ngày 02/01/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn về phí và lệ phí thuộc thẩm quyền quyết định của HĐND cấp tỉnh.
- Nghị định số 114/2009/NĐ-CP ngày 23/12/2009 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 02/2003/NĐ-CP.
- Quyết định số 23/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Phát triển thương mại nông thôn giai đoạn 2010-2015, định hướng đến năm 2020.
- Quyết định số 19/2007/QĐ-BTC ngày 31/12/2007 phê duyệt Quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng thương mại chủ yếu Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Thu thập số liệu thống kê, báo cáo tổng kết giai đoạn 2011-2013 từ Phòng Quản lý thương mại – Sở Công Thương Hải Dương, Niên giám thống kê năm 2013 của Cục Thống kê tỉnh Hải Dương, các văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương và UBND tỉnh Hải Dương, các công trình nghiên cứu và luận văn liên quan.
- Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp, so sánh đối chiếu số liệu qua các năm (2011-2013) theo cơ cấu vùng miền, phân hạng chợ và nguồn vốn đầu tư để luận giải thực trạng công tác quản lý.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh tại chợ
Chương I tập trung làm rõ hệ thống lý luận về chợ và vai trò của QLNN trong lĩnh vực phân phối truyền thống:
- Trình bày hệ thống định nghĩa chuẩn mực về chợ, hoạt động kinh doanh tại chợ và nội dung quản lý nhà nước về thương mại.
- Phân tích chi tiết quy chuẩn phân loại chợ (hạng 1, 2, 3, chợ đầu mối, chợ tạm, chợ dân sinh) và tiêu chuẩn kỹ thuật diện tích điểm kinh doanh tối thiểu 3m².
- Phân định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước theo ngành và theo lãnh thổ: Bộ Công Thương giữ vai trò chủ trì xây dựng quy hoạch toàn quốc và quy chế mẫu; các Bộ ngành liên quan (Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Xây dựng, Tài nguyên và Môi trường, Y tế, Công an) phối hợp chuyên môn; UBND cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã thực hiện quyền hạn theo phân cấp quản lý đầu tư và vận hành chợ.
- Làm rõ quy chế hoạt động của hai mô hình tổ chức chợ: Ban quản lý chợ và Doanh nghiệp/Hợp tác xã kinh doanh khai thác chợ; các quy định về mặt hàng cấm/hạn chế kinh doanh (chất nổ, phóng xạ, hóa chất độc hại), quy định về an toàn PCCC, an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và cơ chế thu, trích nộp phí chợ theo Thông tư 02/2014/TT-BTC.
- Khẳng định sự cần thiết của việc hoàn thiện QLNN dựa trên bốn yếu tố: vai trò phát triển kinh tế - giải quyết việc làm - bảo tồn văn hóa của chợ; xu thế hiện đại hóa hệ thống thương mại; các bất cập tự phát của mạng lưới chợ và sự hạn chế trong năng lực quản lý của bộ máy nhà nước.
Chương II: Thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh tại các chợ trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Chương II phản ánh toàn diện hiện trạng mạng lưới chợ và công tác QLNN tại Hải Dương giai đoạn 2011-2013:
- Mạng lưới và quy mô: Năm 2013, toàn tỉnh có 176 chợ với gần 11.000 hộ kinh doanh, bao gồm 4 chợ hạng 1 và đầu mối, 9 chợ hạng 2, 139 chợ hạng 3 và 25 chợ tạm. Tỷ lệ phân bố tập trung chủ yếu ở nông thôn với 127 chợ (72,16%), khu vực thành thị có 49 chợ (27,84%). Tổng diện tích đất chợ đạt gần 400.000 m². Tỉnh có 3 chợ đầu mối lớn gồm: Nam Đồng (60.000 m², vốn đầu tư ngân sách 60 tỷ đồng), Gia Xuyên (30.000 m², vốn gần 50 tỷ đồng) và Đồng Gia (30.000 m², vốn hơn 40 tỷ đồng).
- Cơ sở vật chất hạ tầng: Toàn tỉnh chỉ có 22/176 chợ (chiếm 12,5%) đạt chuẩn kiên cố theo TCVN 9211:2012, 142 chợ bán kiên cố, còn lại là chợ lều tạm. Tổng vốn đầu tư cải tạo chợ giai đoạn 2011-2013 là 7,48 tỷ đồng (doanh nghiệp và hộ dân đóng góp 4,35 tỷ đồng, ngân sách địa phương 2,33 tỷ đồng, ngân sách trung ương 0,8 tỷ đồng).
- Kết quả kinh doanh và đóng góp: Doanh thu lưu chuyển hàng hóa qua chợ tăng liên tục từ 7.480,12 tỷ đồng (2011) lên 8.856,16 tỷ đồng (2013); doanh thu trung bình 3 năm đạt 8.214,59 tỷ đồng/năm, đóng góp vào mức tăng trưởng thương mại hơn 14% của tỉnh. Doanh thu chợ khu vực huyện chiếm tỷ trọng 68,1%, khu vực thành phố chiếm 31,9%. Hàng năm hệ thống chợ đóng góp nộp ngân sách tỉnh hơn 3 tỷ đồng, tạo việc làm và thu nhập bình quân từ 40-80 triệu đồng/năm cho mỗi hộ kinh doanh.
- Thực trạng công tác QLNN: Công tác ban hành văn bản quy phạm bám sát Nghị định 11/VBHN-BCT; bước đầu triển khai chuyển đổi mô hình quản lý sang doanh nghiệp/hợp tác xã; duy trì hoạt động thanh tra liên ngành của Ban Chỉ đạo 127 về chống buôn lậu, hàng giả, gian lận thương mại và kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Hạn chế tồn tại: Một số chợ đầu mối hoạt động kém hiệu quả (chợ Gia Xuyên lượng hàng trung chuyển giảm từ 200 tấn/ngày năm 2010 xuống 100 tấn/ngày năm 2011, chủ yếu chỉ bán dưa hấu với khoảng 100 hộ kinh doanh); tiến độ xây dựng chợ nông thôn mới rất chậm (mới có 8/139 chợ nông thôn đạt tiêu chí NTM, chiếm hơn 6%); bộ máy BQL chợ kiêm nhiệm, thiếu chuyên môn; các doanh nghiệp e ngại đầu tư do vướng mắc thủ tục và chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn; việc xử phạt vi phạm vệ sinh môi trường và lấn chiếm ki-ốt chưa triệt để.
Chương III: Các đề xuất và kiến nghị để hoàn thiện quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh tại các chợ trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Chương III đề xuất phương hướng, giải pháp và kiến nghị cụ thể nhằm nâng cao hiệu lực QLNN đối với hệ thống chợ trên địa bàn tỉnh:
- Định hướng quy hoạch: Thực hiện quy hoạch phát triển mạng lưới chợ đến năm 2020; tiếp tục nâng cấp chợ Hải Dương với kinh phí 12,18 tỷ đồng; cải tạo 3 chợ đầu mối với mức vốn 30 tỷ đồng/chợ; năm 2014 hỗ trợ 10,5 tỷ đồng cho 19 chợ (2 chợ hạng 2 và 17 chợ hạng 3); phấn đấu đến năm 2015 toàn tỉnh có 46 chợ đạt tiêu chí quy định.
- Các nhóm giải pháp đồng bộ:
- Về thể chế và phân công quản lý: Sở Công Thương hoàn thiện quy hoạch phân cấp; phối hợp liên ngành với Sở Y tế (VSATTP), Sở Tài nguyên và Môi trường (rác thải, thoát nước), Sở Khoa học và Công nghệ (đo lường, kiểm định), Sở Nội vụ (kiện toàn bộ máy BQL), Sở Tài chính và Sở Kế hoạch và Đầu tư (bố trí nguồn vốn). Phân định rõ quyền hạn giữa UBND cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã.
- Về thu hút đầu tư và chuyển đổi mô hình quản lý: Tổ chức đấu thầu công khai quyền khai thác chợ cho các doanh nghiệp, hợp tác xã; trao quyền tự chủ tài chính và kinh doanh dịch vụ; ban hành chính sách ưu đãi về tiếp cận vốn vay ngân hàng, giảm lãi suất và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
- Về tổ chức mặt bằng và đào tạo nhân lực: Điều chỉnh quy hoạch ki-ốt theo ngành hàng, tránh bố trí xen lẫn hàng tươi sống với hàng khô; xóa bỏ tình trạng cơi nới gây mất an toàn PCCC; tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý thị trường định kỳ cho đội ngũ cán bộ BQL và Tổ quản lý (TQL) chợ.
- Về thanh tra, kiểm tra: Tăng cường kiểm soát định kỳ và đột xuất vào các dịp cao điểm lễ, Tết đối với các mặt hàng trọng điểm (thực phẩm, tân dược, rượu bia, phân bón); trang bị thiết bị kiểm định nhanh cho lực lượng chức năng.
- Hệ thống kiến nghị: Kiến nghị cụ thể tới Chính phủ (hoàn thiện khung pháp lý về chuyển đổi chợ), Bộ Công Thương (hướng dẫn cơ chế đấu thầu quản lý chợ), Sở Tài chính (cân đối ngân sách đầu tư chợ nông thôn), Sở Kế hoạch và Đầu tư (thu hút vốn đầu tư ngoài ngân sách) và Công an tỉnh Hải Dương (tăng cường kiểm tra an ninh trật tự và PCCC).
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và lượng hóa bức tranh toàn cảnh về mạng lưới chợ và hoạt động kinh doanh thương mại tại tỉnh Hải Dương qua các số liệu thứ cấp có giá trị:
| STT |
Phân hạng chợ |
Số lượng (chợ) |
Tỷ trọng doanh thu (%) |
| 1 |
Chợ hạng 1 và chợ đầu mối |
4 |
32% |
| 2 |
Chợ hạng 2 |
9 |
21% |
| 3 |
Chợ hạng 3 |
139 |
40% |
| 4 |
Chợ tạm |
25 |
7% |
| Tổng |
Toàn tỉnh |
176 |
100% |
Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo của Phòng Quản lý thương mại – Sở Công Thương Hải Dương (2013)
| Chỉ tiêu theo dõi |
Năm 2011 |
Năm 2012 |
Năm 2013 |
| Tổng doanh thu toàn tỉnh (tỷ đồng) |
7.480,12 |
8.307,48 |
8.856,16 |
| - Doanh thu khu vực thành phố (tỷ đồng) |
2.288,92 |
2.675,00 |
2.922,53 |
| - Doanh thu khu vực các huyện (tỷ đồng) |
5.191,20 |
5.362,48 |
5.933,63 |
| Cơ cấu lưu chuyển hàng hóa (%) |
|
|
|
| - Tỷ trọng chợ khu vực thành phố |
30,6% |
32,2% |
33,0% |
| - Tỷ trọng chợ khu vực huyện |
69,4% |
67,8% |
67,0% |
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương năm 2013
| STT |
Nguồn vốn đầu tư |
Số tiền (tỷ đồng) |
Cơ cấu tỷ trọng (%) |
| 1 |
Doanh nghiệp, hộ kinh doanh đóng góp |
4,35 |
58,15% |
| 2 |
Ngân sách địa phương |
2,33 |
31,15% |
| 3 |
Ngân sách trung ương |
0,80 |
10,70% |
| Tổng |
Vốn đầu tư xây dựng, cải tạo chợ |
7,48 |
100,00% |
Nguồn: Phòng Quản lý thương mại – Sở Công Thương Hải Dương
Đóng góp thực tiễn và khoa học của đề tài:
- Khóa luận hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh chợ truyền thống ở cấp tỉnh, làm rõ các công cụ pháp lý, kinh tế và tổ chức.
- Cung cấp bộ dữ liệu chi tiết về thực trạng 176 chợ trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2011-2013, phân tích rõ sự mất cân đối giữa chợ thành thị và nông thôn, cũng như chỉ ra nguyên nhân khiến một số chợ đầu mối (như chợ Gia Xuyên) hoạt động dưới công suất thiết kế.
- Đề xuất hệ thống giải pháp gắn liền với chủ trương xây dựng nông thôn mới và chuyển đổi mô hình BQL chợ sang doanh nghiệp/hợp tác xã, phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm phối hợp giữa các sở ngành chuyên môn tại địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của đề tài: Khóa luận chủ yếu tiếp cận nghiên cứu tổng thể trên phạm vi toàn tỉnh nên chưa đi sâu phân tích đặc thù quản lý của từng loại hình chợ chuyên doanh riêng biệt (như chợ thủy hải sản Ô Mễ, chợ rau quả Gia Xuyên, chợ vải Bắc Kinh) hoặc từng phiên chợ vùng cao/nông thôn sâu; chưa có điều kiện khảo sát trực tiếp chi tiết bằng bảng hỏi đối với từng nhóm hộ kinh doanh nhỏ lẻ và người tiêu dùng tại các chợ tạm.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng nghiên cứu cơ chế tài chính và các rủi ro pháp lý trong quá trình xã hội hóa, chuyển đổi mô hình sở hữu và quản lý chợ sang doanh nghiệp; xây dựng khung tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội đối với mạng lưới chợ nông thôn mới trong bối cảnh thương mại điện tử và chuỗi cung ứng hiện đại phát triển.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng tham khảo: Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên các ngành Kinh tế thương mại, Quản trị kinh doanh, Quản lý kinh tế và Luật kinh tế khi thực hiện đề tài tốt nghiệp hoặc nghiên cứu về phân phối truyền thống và chính sách công.
- Phần nội dung giá trị:
- Khung lý thuyết và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động chợ (Chương I).
- Bảng biểu số liệu và phương pháp đánh giá thực trạng mạng lưới chợ cấp tỉnh (Chương II).
- Các đề xuất về cơ chế phân cấp quản lý liên ngành và quy trình chuyển đổi mô hình quản lý chợ sang doanh nghiệp/hợp tác xã (Chương III).
Câu hỏi thường gặp
1. Mạng lưới chợ trên địa bàn tỉnh Hải Dương năm 2013 có quy mô và cơ cấu phân hạng như thế nào?
Năm 2013, Hải Dương có tổng cộng 176 chợ với gần 11.000 hộ kinh doanh. Cơ cấu phân hạng gồm: 4 chợ hạng 1 và đầu mối tương đương, 9 chợ hạng 2, 139 chợ hạng 3 và 25 chợ tạm. Phân bố gồm 127 chợ khu vực nông thôn (chiếm 72,16%) và 49 chợ khu vực thành thị (chiếm 27,84%).
2. Tổng mức doanh thu và tỷ trọng lưu chuyển hàng hóa qua hệ thống chợ Hải Dương biến động ra sao trong giai đoạn 2011-2013?
Doanh thu qua chợ toàn tỉnh tăng đều qua các năm: đạt 7.480,12 tỷ đồng (2011), 8.307,48 tỷ đồng (2012) và 8.856,16 tỷ đồng (2013). Trong đó, chợ khu vực các huyện chiếm tỷ trọng chủ đạo khoảng 67,0% - 69,4%, chợ khu vực thành phố chiếm từ 30,6% - 33,0%.
3. Cơ cấu vốn đầu tư xây dựng, cải tạo chợ tại Hải Dương giai đoạn 2011-2013 được huy động từ những nguồn nào?
Tổng vốn đầu tư xây dựng, cải tạo chợ giai đoạn 2011-2013 đạt 7,48 tỷ đồng. Trong đó, vốn đóng góp từ doanh nghiệp và hộ kinh doanh chiếm 4,35 tỷ đồng (58,15%), ngân sách địa phương chiếm 2,33 tỷ đồng (31,15%) và ngân sách trung ương hỗ trợ 0,8 tỷ đồng (10,70%).
4. Khóa luận ghi nhận thực trạng hoạt động của chợ đầu mối nông sản Gia Xuyên như thế nào?
Chợ đầu mối Gia Xuyên (huyện Gia Lộc) có diện tích 30.000 m², vốn đầu tư gần 50 tỷ đồng, đi vào hoạt động năm 2010. Ban đầu chợ thu hút 100 tiểu thương với lượng trung chuyển 200 tấn/ngày. Tuy nhiên đến năm 2011, lượng hàng giảm 50% xuống còn 100 tấn/ngày, mặt hàng thu mua chủ yếu chỉ có dưa hấu và đến năm 2013 duy trì khoảng hơn 100 hộ kinh doanh ổn định, chưa phát huy hết công suất thiết kế.
5. Tiến độ xây dựng chợ đạt chuẩn nông thôn mới tại tỉnh Hải Dương đến năm 2013 đạt kết quả ra sao?
Đến năm 2013, tiến độ xây dựng chợ nông thôn mới trên địa bàn tỉnh còn rất chậm khi toàn tỉnh mới chỉ có 8/139 chợ nông thôn đạt tiêu chí quy định (chiếm hơn 6%). Trong đó, huyện Tứ Kỳ có 2 chợ đạt chuẩn, một số huyện chỉ có 1 chợ và hơn 100 chợ nông thôn còn lại đều chưa đạt chuẩn do thiếu vốn và hạ tầng tạm bợ.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả An Thị Thanh Thanh đã phản ánh có hệ thống cơ sở lý luận và thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh tại 176 chợ trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2011-2013. Tác giả đã sử dụng nguồn dữ liệu thực tế từ Sở Công Thương và Cục Thống kê để chỉ rõ các kết quả về doanh thu, giải quyết việc làm, nộp ngân sách, đồng thời phân tích sâu sắc các hạn chế về cơ sở hạ tầng, sự suy giảm hiệu quả tại chợ đầu mối và tiến độ chợ nông thôn mới. Trên cơ sở đó, công trình đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ về cơ chế chính sách, huy động vốn đầu tư xã hội hóa, kiện toàn bộ máy quản lý và tăng cường kiểm tra liên ngành nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển hạ tầng thương mại của tỉnh đến năm 2020.