CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI CHỢ 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm chợ a, Khái niệm chợ - Theo Đại Từ điển tiếng Việt - NXB Văn hoá Thông tin - 2004 (tr.155): "Chợ là nơi tụ họp giữa người mua và người bán để trao đổi hàng hoá, thực phẩm hàng ngày theo từng buổi hoặc từng phiên nhất định (chợ phiên). - Theo Nghị định số 02/2003/NĐ-CP về phát triển và quản lý chợ , Chính phủ ban hành ngày 14 tháng 01 năm 2003 “Chợ là loại hình kinh doanh thương mại được hình thành và phát triển mang tính truyền thống, được tổ chức tại một địa điểm theo quy hoạch, đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hoá và nhu cầu tiêu dùng của khu vực dân cư". Vậy, chợ là một loại hình thương mại có tính chất truyền thống, là bộ phận cấu thành quan trọng trong mạng lưới thương mại xã hội; chợ là nơi diễn ra hoạt động trao đổi mua bán để thỏa mãn nhu cầu hàng ngày của người dân; được hình thành và phát triển do yêu cầu sản xuất, lưu thông và tiêu dùng xã hội. b, Phân hạng chợ Theo cách phân hạng chợ trong Điều 3 Nghị định số 11/VBHN-BCT về phát triển và quản lý chợ, Chính phủ ban hành, ngày 23 tháng 1 năm 2013, dựa trên các tiêu chuẩn nhất định chợ được phân hạng như sau: - Chợ hạng 1: Là chợ có trên 400 điểm kinh doanh, được đầu tư xây dựng kiên cố, hiện đại theo quy hoạch.
Được đặt ở các vị trí trung tâm kinh tế thương mại quan trọng của tỉnh, thành phố hoặc là chợ đầu mối của ngành hàng, của khu vực kinh tế và được tổ chức họp thường xuyên. Có mặt bằng phạm vi chợ phù hợp với quy mô hoạt động của chợ và tổ chức đầy đủ các dịch vụ tại chợ: trông giữ xe, bốc xếp hàng hóa, kho bảo quản hàng hóa, dịch vụ đo lường, dịch vụ kiểm tra chất lượng hàng hóa, vệ sinh an toàn thực phẩm và các dịch vụ khác. - Chợ hạng 2: Là chợ có từ 200 điểm kinh doanh đến 400 điểm kinh doanh, được đầu tư xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố theo quy hoạch. Được đặt ở trung tâm giao lưu kinh tế của khu vực và được tổ chức họp thường xuyên hay không thường xuyên.
Có mặt bằng phạm vi chợ phù hợp với quy mô hoạt động chợ và tổ chức các dịch vụ tối thiểu tại chợ: trông giữ xe, bốc xếp hàng hóa, kho bảo quản hàng hóa, dịch vụ đo lường, vệ sinh công cộng. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Chợ hạng 3: Là các chợ có dưới 200 điểm kinh doanh hoặc các chợ chưa được đầu tư xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố. Chủ yếu phục vụ nhu cầu mua bán hàng hóa của nhân dân trong xã, phường và địa bàn phụ cận. c, Một số khái niệm khác - Phạm vi chợ: là khu vực được quy hoạch dành cho hoạt động chợ, bao gồm diện tích để bố trí các điểm kinh doanh, khu vực dịch vụ (như: bãi để xe, kho hàng, khu ăn uống, vui chơi giải trí và các dịch vụ khác) và đường bao quanh chợ.
- Chợ đầu mối: là chợ có vai trò chủ yếu thu hút, tập trung lượng hàng hóa lớn từ các nguồn sản xuất, kinh doanh của khu vực kinh tế hoặc của ngành hàng để tiếp tục phân phối tới các chợ và các kênh lưu thông khác. - Chợ kiên cố: là chợ được xây dựng bảo đảm có thời gian sử dụng trên 10 năm. - Chợ bán kiên cố: là chợ được xây dựng bảo đảm có thời gian sử dụng từ 5 đến 10 năm. - Điểm kinh doanh tại chợ: bao gồm quầy hàng, sạp hàng, ki-ốt, cửa hàng được bố trí cố định trong phạm vi chợ theo thiết kế xây dựng chợ, có diện tích quy chuẩn tối thiểu là 3m2/ điểm.
- Chợ chuyên doanh: là chợ kinh doanh chuyên biệt một ngành hàng hoặc một số ngành hàng có đặc thù và tính chất riêng. - Chợ tổng hợp: là chợ kinh doanh nhiều ngành hàng. - Chợ dân sinh: là chợ hạng 3 (do xã, phường quản lý) kinh doanh những mặt hàng thông dụng và thiết yếu phục vụ đời sống hàng ngày của người dân. - Chợ tạm: là chợ nằm trong quy hoạch nhưng chưa được xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố.
- Chợ nông thôn: là chợ xã của các huyện và ở khu vực ngoại thành, ngoại thị.2 Hoạt động kinh doanh tại chợ a, Hoạt động kinh doanh HĐKD được hiểu là một quá trình liên tục từ nghiên cứu thị trường và tìm cách đáp ứng nhu cầu đó thông qua việc thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng để đạt được mục đích lợi nhuận. HĐKD là phương thức hoạt động kinh tế trong điều kiện tồn tại nền kinh tế hàng hóa, gồm tổng thể những phương pháp, hình thức và phương diện mà chủ thể kinh tế sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh tế của mình (bao gồm quá trình đầu tư, sản xuất, vận tải, thương mại, dịch vụ…) trên cơ sở vận dụng các quy luật giá trị cùng với các quy luật khác, nhằm đạt được nhằm mục tiêu vốn sinh lời cao nhất. b, Hoạt động kinh doanh tại chợ HĐKD tại chợ là phương thức hoạt động kinh tế trong điều kiện tồn tại nền kinh tế hàng hóa, gồm tổng thể những phương pháp, hình thức và phương diện mà chủ 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thể hoạt động ở chợ sử dụng để thực hiện các hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa dịch vụ của mình tại các chợ trên cơ sở vận dụng các quy luật giá trị cùng với các quy luật khác, nhằm mục tiêu vốn sinh lời cao nhất.3 Quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh tại chợ a, Quản lý nhà nước về thương mại Trước tiên ta tìm hiểu một số khái niệm liên quan đến QLNN: Quản lý nhà nước: là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. QLNN về kinh tế: là quá trình tác động có ý thức và liên tục, phù hợp với quy luật của các cơ quan quản lý nhà nước trên tầm vĩ mô đến các hoạt động kinh tế, các quy trình kinh tế nhằm tạo ra kết quả theo mục tiêu xác định trong điều kiện môi trường luôn biến động.
QLNN về thương mại: là một bộ phận hợp thành của QLNN về kinh tế, là sự tác động có hướng đích, có tổ chức của hệ thống cơ quan quản lý trên tầm vĩ mô về thương mại các cấp đến hệ thống bị quản lý thông qua việc sử dụng các công cụ và chính sách quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đặt ra trong điều kiện môi trường xác định. b, Quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh tại chợ QLNN đối với HĐKD tại chợ là sự tác động của cơ quan quản lý Nhà nước đến hoạt động trao đổi mua bán của các chủ thể kinh tế hoạt động tại chợ bằng các công cụ, chính sách, biện pháp quản lý nhằm đạt được mục tiêu. - Cơ quan quản lý: là ngành công thương và các sở ngành liên quan như tài chính, môi trường, y tế, an ninh… - Đối tượng quản lý: là hoạt động trao đổi, mua bán của các chủ thể tại chợ. - Công cụ quản lý: bao gồm các chính sách, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, thủ tục, quy định liên quan đến HĐKD ở chợ.
- Mục tiêu quản lý: nhằm đảm bảo các HĐKD tại chợ diễn ra đúng với quy định của pháp luật để duy trì sự ổn định và phát triển hệ thống chợ.2 Nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh tại các chợ 1.1 Nội dung quản lý nhà nước về chợ a, Nội dung quản lý nhà nước về chợ - Xây dựng quy hoạch, kế hoạch, phương hướng phát triển chợ từng thời kỳ phù hợp với quy hoạch, kế hoạch, phương hướng phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phương, khu vực, đáp ứng nhu cầu của sản xuất, lưu thông hàng hóa và tiêu dùng của nhân dân. - Ban hành các chính sách đầu tư, xây dựng, khai thác và quản lý hoạt động chợ. - Quản lý các chợ Nhà nước đầu tư xây dựng theo quy định về phân cấp quản lý. - Chỉ đạo, hướng dẫn các BQL chợ, doanh nghiệp kinh doanh khai thác và quản lý chợ về chính sách, nghiệp vụ quản lý chợ.
- Tổ chức công tác tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhà nước cho mọi người trong phạm vi chợ. - Tổ chức kiểm tra, khen thưởng và xử lý các vi phạm về hoạt động chợ. b, Trách nhiệm của các Bộ, ngành Bộ Công Thương có trách nhiệm: - Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan nghiên cứu trình Chính phủ ban hành, sửa đổi, bổ sung các chính sách và phương hướng về phát triển và quản lý hoạt động chợ. - Chủ trì phối hợp với Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của BQL chợ.
- Ban hành Nội quy chợ mẫu và các văn bản hướng dẫn về quản lý hoạt động kinh doanh chợ. - Quy định cụ thể và hướng dẫn chế độ báo cáo hoạt động chợ. - Chỉ đạo việc tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ quản lý chợ. - Chỉ đạo khen thưởng, kiểm tra xử lý vi phạm pháp luật và Nội quy chợ.
- Xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển chợ trong từng thời kỳ và hướng dẫn, chỉ đạo việc thực hiện. - Xây dựng, điều chỉnh quy hoạch phát triển hệ thống chợ trên toàn quốc. - Hướng dẫn và chỉ đạo UBND cấp tỉnh xây dựng hoặc điều chỉnh quy hoạch phát triển hệ thống chợ, ban hành các quy định cụ thể về phát triển, quản lý và khai thác chợ phù hợp với điều kiện của địa phương. Ngoài ra, QLNN về chợ còn có sự tham gia phối hợp của các bộ ngành liên quan, bao gồm: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài Chính, Bộ Nội vụ, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Y tế, Bộ Công an và Liên minh Hợp tác xã Việt Nam.