Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đầu tư công và quản lý đầu tư công. Chương 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CÔNG 1.
Cơ sở lý luận về quản lý đầu tư công 1. Khái niệm về đầu tư công Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Luật đầu tư (2014) của nước ta quy định: Nhà nước đối xử bình đẳng giữa các nhà đầu tư; có chính sách khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh, phát triển bền vững các ngành kinh tế. Chính phủ ban hành chính sách hỗ trợ các hoạt đông công ích và danh mục sản phẩm, dịch vụ công ích.
Điều này có nghĩa là Nhà nước không độc quyền trong lĩnh vực đầu tư cung cấp hàng hoá dịch vụ công, Nhà nước có thể xã hội hoá hoạt động này bằng việc trao một phần đầu tư cung cấp hàng hoá công cho khu vực phi Nhà nước thực hiện. Đầu tư công hướng đến mục tiêu chung là đầu tư phục vụ nhu cầu chung, thiết yếu của xã hội, của cộng đồng, Nhà nước có trách nhiệm đảm bảo, quản lý, điều tiết và giám sát các hoạt động đầu tư này. Như vậy, đầu tư công là một hoạt động đầu tư của Nhà nước, sử dụng nguồn vốn chủ yếu từ ngân sách Nhà nước để thực hiện thiết kế, xây dựng các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Vai trò của đầu tư công Như đã nói ở trên, đầu tư công có nghĩa là Nhà nước sử dụng nguồn vốn thuộc sở hữu của mình để tiến hành đầu tư nhằm đạt được các mục tiêu nhất định.
Trong thực tiễn đời sống kinh tế xã hội, có nhiều lĩnh vực, nhiều dự 6 án mà tư nhân không đủ khả năng hoặc đủ khả năng mà không muốn thực hiện. Ví dụ như các dự án xây dựng công trình cầu, đường, các công trình công cộng; đầu tư phát triển cho vùng miền núi, dân tộc thiểu số,. Bởi đó đều là những dự án phải bỏ nhiều vốn đầu tư ban đầu, thời gian thu hồi vốn lâu, hoặc khả năng thu hồi được vốn là không cao. Do đó, việc đầu tư của Nhà nước để đảm bảo các nhu cầu tối thiểu của cộng đồng được đáp ứng, giữ vững ổn định xã hội, tránh tình trạng bất công bằng, bất bình đẳng trong xã hội.
Vai trò của đầu tư công được thể hiện trên ba khía cạnh quan trọng sau: + Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dựa vào việc đầu tư cho các công trình hạ tầng, cơ sở vật chất - kỹ thuật tối thiểu chung cho xã hội. Đây cũng đồng thời tạo những điều kiện thiết yếu cho các thành phần kinh tế ngoài Nhà nước đầu tư và phát triển. Ngoài ra, đầu tư công giúp cho cơ hội được tập trung nguồn lực cao, hoặc Trung ương có thể điều tiết được một cách họp lý các nguồn đầu tư, tránh tình trạng cục bộ, địa phương, nơi thừa, nơi thiếu. + Góp phần làm giảm khoảng cách giàu nghèo, giảm bất bình đằng, bất công trong xã hội bằng các chương trình, dự án kinh tế hỗ trợ các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, các dân tộc thiểu số (chương trình 30a, 135 của Chính phủ, các chương trình xóa đói giảm nghèo,.), nâng cao và ổn định đời sống người dân.
+ Đảm bảo ổn định và không ngừng tăng cường quốc phòng, an ninh. Các công trình, dự án về an ninh, quốc phòng đều không mang lại hiệu quả kinh tế trước mắt nên khu vực tư nhân không thể và cũng không muốn đầu tư vào lĩnh vực này. Nhưng đó lại là cơ sở quan trọng của đất nước để bảo vệ Tổ quốc, giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia. Đặc điểm của đầu tư công Đầu tư công gồm có các đặc điểm sau: + Đầu tư công mang tính chất xã hội: Mục đích là phục vụ lợi ích chung, không vì mục đích kinh doanh, không phân biệt tầng lớp, giai cấp trong xã hội, đảm bảo công bằng, ổn định xã hội.
7 + Đầu tư công cung cấp hàng hoả, dịch vụ công, loại hàng hoả dịch vụ đặc biệt: Là hàng hoá do Nhà nước cung ứng hoặc uỷ nhiệm cho tổ chức, cá nhân thực hiện, đáp ứng yêu cầu xã hội, sản phẩm của đầu tư công không mang tính loại trừ và tính cạnh tranh. Mọi đối tượng đều có quyền ngang nhau trong việc tiếp cận hàng hoá công. Việc trao đổi, sử dụng hàng hoá công thông qua quan hệ thị trường đầy đủ. Thông thường, người sử dụng hàng hoá công không trực tiếp trả tiền, đúng hơn là họ đã trả tiền dưới hình thức nộp thuế vào ngân sách Nhà nước.
Cũng có những hàng, hoá dich vụ công mà người sử dụng vẫn phải trả một phần chi phí, song nhà nước vẫn có trách nhiệm đảm bảo cung ứng các hàng hoá công này không vì mục tiêu lợi nhuận. + Đổi tượng sử dụng nguồn đầu tư công: Các chương trình mục tiêu, dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; Các công trình công cộng, quốc phòng, an ninh; Các dự án đầu tư phục vụ hoạt động của các cơ quan, đơn vi sự nghiệp kinh tế, quản lý nhà nước, nghiên cứu khoa học và công nghệ, các tổ chức chính trị - xã hội, dự án văn hoá - xã hội, cơ sở công cộng không có điều kiện xã hội hoá; Hỗ trợ đầu tư dự án đầu tư của các tố chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, các to chức xã hội - nghề nghiệp, dự án đầu tư công khác theo quy định của Chính phủ. + Nguồn vốn để tài trợ cho các hoạt động đầu tư công: Bao gồm vốn ngân sách nhà nước, vốn công trái quốc gia, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn trái phiếu chính quyền địa phương, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn đầu tư từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước, các khoản vốn vay của ngân sách địa phương để đầu tư. Quản lý đầu tư công 1.
Khái niệm quản lý đầu tư công Quản lý nói chung là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý vào các đối tượng quản lý để điều khiển đối tượng nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra. 8 Quản lý đầu tư chính là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng quá trình đầu tư (bao gồm công tác chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và vận hành kết quả đầu tư cho đến khi thanh lý tài sản do đầu tư tạo ra) bằng một hệ thống đồng bộ các biện pháp nhằm đạt được hiện quả kinh tế xã hội cao trong những điều kiện cụ thể xác định và trên cơ sở vận dụng sáng tạo những quy luật kinh tế khách quan nói chung và quy luật vận động đặc thù của đầu tư nói riêng. Quản lý đầu tư công là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng quá trình đầu tư của nhà nước nhằm đạt được mục tiêu và đảm bảo tính hiệu quả của đầu tư công. Nguyên tắc quản lý đầu tư công Nguyên tắc quản lý đầu tư công công được quy định tại điều 12 Luật đầu tư công năm 2019 như sau: + Tuân thủ quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng vốn đầu tư công.
+ Phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm của quốc gia và quy hoạch có liên quan theo quy định của pháp luật về quy hoạch. + Thực hiện đúng trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức, cá nhân liên quan đến quản lý và sử dụng vốn đầu tư công. + Quản lý việc sử dụng vốn đầu tư công theo đúng quy định đối với từng nguồn vốn; bảo đảm đầu tư tập trung, đồng bộ, chất lượng, tiết kiệm, hiệu quả và khả năng cân đối nguồn lực; không để thất thoát, lãng phí. + Bảo đảm công khai, minh bạch trong hoạt động đầu tư công [2].
Sự cần thiết của quản lý đầu tư công Thứ nhất, do yêu cầu phát triển của sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Với mục tiêu trên chúng ta cần phải có nhiều vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển công nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách hợp lý. Tuy 9 nhiên trong thời gian qua Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm định hướng phát triển kinh tế - xã hội theo từng thế mạnh của từng địa phương, song quá trình thực hiện còn nhiều mặt chưa được: vốn đầu tư còn thiếu, nhưng bố trí còn dàn trải, chưa tập trung, chưa có trọng điểm, cho nên chưa đạt được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đề ra. Thứ hai, quản lý đầu tư công cơ bản từ vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn nhằm đảm bảo tránh thất thoát, lãng phí trong đầu tư công.
Thời gian qua, nguồn vốn đầu tư công không ngừng nâng cao. Trong thực tế, việc quản lý và sử dụng vốn đầu tư công từ ngân sách nhà nước còn nhiều bất cập và tồn tại như: Cơ chế chính sách chưa đồng bộ, còn nhiều kẽ hở; công tác quản lý vốn đầu tư công cơ bản còn kém… điều đó dẫn tới thất thoát vốn đầu tư công cơ bản ở hầu hết các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước. Đây là vấn đề đang làm nhức nhối trong toàn xã hội. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để tránh thất thoát, tăng hiệu quả vốn đầu tư bằng ngân sách nhà nước ? Thực hiện được điều này trước hết phải đổi mới cơ chế quản lý vốn đầu tư công cơ bản từ ngân sách nhà nước.
Như vậy, xuất phát từ thực trạng bất cập của cơ chế đầu tư công từ vốn ngân sách nhà nước, nên cần phải đổi mới lĩnh vực này nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án đầu tư và chống thất thoát, lãng phí là tất yếu khách quan.