Chương 1: Chương 2: Thực trạng hệ thống quản lý chất lượng công trình xây dựng tại Quận 12 TP. Chương 3: Đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng vốn ngân sách trên địa bàn Quận 12- TP. Hồ Chí Minh 4 CHƢƠNG 1: Ề QUẢN LÝ CHẤT LƢỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG 1. Cơ sở lý luận về quản lý chất lƣợng công trình.
Khái niệm chất lượng và chất lượng sản phẩm xây dựng. Khái niệm chất lượng. Theo quan điểm của các nhà Triết học Chất lượng là tính xác định cơ bản của khách thể, vì vậy nó là cái đó chứ không phải là cái khác, nhờ đó mà nó khác biệt với các khách thể khác. Qua cách diễn dịch trên có thể hiểu chất lượng không thể quy về những tính chất riêng biệt mà nó gắn chặt với khách thể như một khối thống nhất bao gồm toàn bộ khách thể, không thể tách rời.
Một số định nghĩa khác ngắn gọn hơn cũng đề cập đến “mức độ thỏa mãn” hay “mức độ thích hợp” của sản phẩm với nhu cầu của người tiêu dùng, cụ thể như: Nếu xuất phát từ bản thân sản phẩm: Chất lượng là tập hợp những tính chất của bản thân sản phẩm để chế định tính thích hợp của nó nhằm thỏa mãn những nhu cầu xác định phù hợp với công dụng của nó. Xuất phát từ phía nhà sản xuất: Chất lượng là sự hoàn hảo và phù hợp của một sản phẩm với một tập hợp các yêu cầu tiêu chuẩn hay các quy cách đã được xác định trước. Xuất phát từ phía thị trường (từ phía khách hàng): Chất lượng là sự phù hợp với mục đích sử dụng của khách hàng. Về mặt giá trị: Chất lượng được hiểu là đại lượng đo bằng tỷ số giữa lợi ích thu được từ việc tiêu dùng sản phẩm với chi phí bỏ ra để đạt được lợi ích đó.
Về mặt cạnh tranh: Chất lượng có nghĩa là cung cấp những thuộc tính mà mang lại lợi thế cạnh tranh nhằm phân biệt sản phẩm đó với sản phẩm khác cùng loại trên thị trường. Theo tổ chức tiêu chuẩn hóa (ISO): Chất lượng là mức độ thỏa mãn của một tập hợp các thuộc tính đối với các yêu cầu đã nêu ra hay tiềm ẩn. Từ những quan điểm trên ta đi đến khái niệm sau: “Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan”. Ở đây yêu cầu là các nhu cầu và mong đợi được công bố, ngụ ý hay bắt buộc theo tập quán.
5 Các yêu cầu và đặc điểm của chất lượng. Các yêu cầu: Khi nói đến sản phẩm tốt nghĩa là nó phải bao gồm cả yếu tố bên trong và bên ngoài sản phẩm. Yếu tố bên trong là yếu tố vật chất tạo ra sản phẩm (thiết bị công nghệ, vật liệu, quy trình chế tạo và dịch vụ cung cấp). Yếu tố bên ngoài là yếu tố mà quá trình sử dụng sản phẩm gây tác động làm ảnh hưởng tới môi trường sử dụng, từ đó ta có các yêu cầu sau: Chất lượng phải chính là kết quả của sự phối hợp thống nhất giữa lao động với các yếu tố kỹ thuật, kinh tế và các yếu tố văn hóa xã hội (bởi chất lượng là sự kết hợp nhuần nhuyễn của 4 yếu tố trên).
Chất lượng phản ánh được khả năng đáp ứng các yêu cầu về chức năng kỹ thuật, phản ánh giá trị sử dụng mà sản phẩm có thể đạt được. Chất lượng được hình thành trong tất cả mọi hoạt động, mọi quá trình. Vì vậy, phải xem xét nó một cách chặt chẽ giữa các quá trình trước, trong và sau sản xuất. Chất lượng cần phải được xem xét chặt chẽ giữa các yếu tố tác động trực tiếp, gián tiếp, bên trong và bên ngoài.
Đặc điểm của chất lượng. Chất lượng được đo bằng sự thỏa mãn các yêu cầu. Nếu một sản phẩm vì lý do nào đó mà không đáp ứng được yêu cầu, không được thị trường chấp nhận thì bị coi là có chất lượng kém, cho dù trình độ công nghệ chế tạo ra sản phẩm đó có thể hiện đại. Đây là kết luận then chốt và là cơ sở để các nhà quản lý định ra chính sách, chiến lược kinh doanh của mình.
Chất lượng được đo bằng sự thỏa mãn các yêu cầu mà các yêu cầu lại luôn biến động theo thời gian, không gian, điều kiện sử dụng. Vì vậy phải định kỳ xem xét các yêu cầu chất lượng. Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, cần phải xét mọi đặc tính của đối tượng, có liên quan đến sự thỏa mãn những yêu cầu cụ thể. Chất lượng không phải chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hóa.
Chất lượng có thể áp dụng cho mọi thực thể, có thể là sản phẩm hoặc một hoạt động dịch vụ, một quá trình, một doanh nghiệp… Cần phân biệt giữa chất lượng và cấp chất lượng. Cấp chất lượng là chủng loại 6 hay thứ hạng của các yêu cầu chất lượng khác nhau đối với sản phẩm, quá trình hay hệ thống có cùng chức năng sử dụng 1. Chất lượng sản phẩm. Chất lượng sản phẩm xây dựng.
Chất lượng sản phẩm là tổng hợp các thuộc tính của sản phẩm có thể đo, đếm được, cảm nhận được về hình dáng, mỹ quan, độ bền, độ an toàn, thuận tiện trong quá trình sử dụng, đáp ứng nhu cầu người sử dụng, phù hợp với trình độ phát triển của xã hội về khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hóa xã hội trong từng giai đoạn (Đối với các hoạt động dịch vụ có thể nhận biết được, cảm nhận được thông qua sự hài lòng của khách hàng). Chất lượng sản phẩm xây dựng là những yêu cầu tổng hợp đối với các đặc tính về kỹ thuật, mỹ thuật, an toàn, bền vững của công trình xây dựng phù hợp với quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn xây dựng và các tiêu chuẩn quy trình, đáp ứng yêu cầu của Chủ đầu tư thông qua hợp đồng kinh tế trên cơ sở pháp luật hiện hành. Ví dụ chất lượng một tuyến đường bộ tốt nghĩa là đường bằng phẳng, độ êm dịu cao, độ dính bám tốt, các đường cong chuyển tiếp hợp lý, điều khiển xe không có cảm giác khó chịu… Chất lượng công trình xây dựng là những yêu cầu về an toàn, bền vững, kỹ thuật và mỹ thuật của công trình phù hợp với quy chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng, các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật có liên quan và hợp đồng giao nhận thầu xây dựng 1. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng Sự hình thành chất lượng bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố kể cả bên trong, bên ngoài từ tầm vĩ mô đến vi mô.
Nhưng do giới hạn của nghiên cứu nên luận văn chỉ đề cập đến một số yếu tố cơ bản sau: Các yếu Nhóm yếu tố nguyên vật liệu tố ảnh hƣởng Nhóm yếu tố kỹ thuật công nghệ thiết bị đến Nhóm yếu tố quản lý chất lƣợng Nhóm yếu tố con người Hình 1.1: Sơ đồ các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công trình 7 Yếu tố nguyên vật liệu: Đây là yếu tố cơ bản của đầu vào có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng sản phẩm. Muốn sản phẩm có chất lượng thì nguyên liệu đầu vào phải đảm bảo chất lượng. Các yêu cầu về nguyên vật liệu đầu vào phải bao gồm đúng chủng loại, số lượng, chất lượng các tiêu chuẩn kỹ thuật và giao hàng đúng kỳ hạn. Nhóm yếu tố kỹ thuật công nghệ thiết bị: Yếu tố kỹ thuật – công nghệ - thiết bị có một tầm quan trọng đặc biệt có tác dụng quyết định đến sự hình thành chất lượng.
Quá trình công nghệ là một quá trình phức tạp, làm thay đổi, cải thiện tính chất ban đầu của nguyên vật liệu theo hướng phù hợp với các yêu cầu về sản phẩm. Quá trình công nghệ được thực hiện thông qua hệ thống máy móc thiết bị. Nếu như công nghệ hiện đại, nhưng thiết bị không đảm bảo thì không thể nâng cao chất lượng sản phẩm được. Nhóm yếu tố kỹ thuật – công nghệ - thiết bị có quan hệ tương hỗ chặt chẽ với nhau.
Để có được chất lượng ta phải đảm bảo sự đồng bộ của nhóm yếu tố này. Nhóm yếu tố quản lý: Trình độ quản lý nói chung và trình độ quản lý chất lượng nói riêng là một trong những nhân tố cơ bản góp phần đẩy nhanh tốc độ cải tiến chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp. Các chuyên gia quản lý chất lượng đồng tình cho rằng trong thực tế có 80% http://image.com/ccnhntnhhngnchtlngsnphm-150109114728- conversion-gate01/95/cc-nhn-t-nh-hng-n-cht-lng-sn-phm-2- 638.jpg?cb=1428664446những vấn đề chất lượng là do quản trị gây ra. Vì vậy nói đến quản trị chất lượng ngày nay trước hết người ta cho rằng đó là chất lượng của quản trị.
Các yếu tố phục vụ cho sản xuất như nguyên vật liệu, kỹ thuật – công nghệ thiết bị và người lao động dù có ở trình độ cao nhưng không biết tổ chức quản lý tạo ra sự phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng ăn khớp giữa các khâu, giữa các yếu tố của quản trị sản xuất thì không thể tạo ra một sản phẩm có chất lượng được. Chất lượng sản phẩm phụ thuộc rất lớn vào cơ cấu và cơ chế quản trị, nhận thức hiểu biết về chất lượng và trình độ của cán bộ quản lý, khả năng xây dựng chính xác mục tiêu, chính sách chất lượng và chỉ đạo tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch chất 8 lượng. Ngày nay, các đơn vị phải nhận thấy được chất lượng sản phẩm là một vấn đề hết sức quan trọng là yếu tố sống còn của doanh nghiệp. Điều đó cho thấy chất lượng là trách nhiệm của toàn bộ phòng, ban theo một hệ thống nhất định, dưới sự quan tâm chặt chẽ của lãnh đạo chứ không chỉ là của nhân viên kiểm tra chất lượng sản phẩm hoặc bất kỳ cá nhân nào khác.
Nhóm yếu tố con ngƣời: Dù cho sản xuất có được tự động hoá thì con người vẫn là yếu tố quyết định đến chất lượng hàng hoá dịch vụ. Trong chế tạo có nhiều phần việc có thể tự động hóa, nhưng còn rất nhiều công việc máy móc chưa thay thế được con người nhất là sản phẩm xây dựng còn có nhiều phần việc thủ công. Con người cũng là một nguồn lực để hình thành chất lượng. Điều đó cho thấy cần phải có những con người có trình độ chuyên môn, có kinh nghiệm và tinh thần trách nhiệm cao trong sản xuất.
Lúc đó mới có thể đảm bảo được chất lượng sản phẩm.2 Quản Lý Chất Lượng sản phẩm. Quản lý chất lượng sản phẩm.