Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG, BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 1. VĂN BẢN PHÁP LUẬT VÀ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 1. Khái niệm Hiện nay thuật ngữ văn bản pháp luật đƣợc sử dụng khá rộng rãi trên sách báo pháp lý, văn bản của Nhà nƣớc nhƣng chƣa có cách hiểu thống nhất giữa các tác giả, cơ quan ban hành. Hoặc cùng một tác giả nhƣng thuật ngữ văn bản pháp luật mang các nội hàm khác nhau tuỳ thuộc từng ngữ cảnh [3, tr23].
Có lúc văn bản pháp luật đƣợc hiểu là tất cả những loại văn bản chứa đựng quyền lực Nhà nƣớc và buộc tất cả các chủ thể mà văn bản hƣớng tới phải tuân theo. Ví dụ: Công văn hƣớng dẫn của Toà án tối cao, báo cáo tổng kết của Viện kiểm sát Nhân dân tối cao. Có quan điểm cho rằng hợp đồng dân sự do các bên thoả thuận xác lập các quyền và nghĩa vụ dân sự phù hợp với quy định của pháp luật Nhà nƣớc thì sẽ trở thành luật giữa hai bên, hơn nữa nó cũng có tính pháp lý làm cho phát sinh, thay đổi, chấm dứt một quan hệ pháp luật dân sự cụ thể nên nó cũng là một loại văn bản pháp luật [1, tr 35]. Có lúc khái niệm văn bản pháp luật còn bị hiểu sai lệch đồng nhất với tất cả các loại văn bản phát sinh trong hoạt động của cơ quan Nhà nƣớc bao gồm cả báo cáo, lịch tuần.
Trong hoạt động của các cơ quan Nhà nƣớc sẽ phát sinh nhiều loại văn bản khác nhau: văn bản mang tính pháp lý và văn bản không mang tính pháp lý hay còn gọi là văn bản hành chính thông thƣờng. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tính pháp lý thể hiện ở hệ quả pháp lý của nó. Hệ quả đó thể hiện ở chỗ nó có khả năng đem lại sự thay đổi trong cơ chế điều chỉnh pháp luật. Tức nó có thể làm thay đổi hệ thống quy phạm pháp luật, đặt cơ sở cho sự thay đổi hệ thống quy phạm pháp luật hoặc quan hệ pháp luật [21, tr 297].
Các văn bản hành chính thông thƣờng nhƣ báo cáo, công văn, biên bản. có thể là sản phẩm hoặc làm tiền đề cho việc ban hành văn bản mang tính pháp lý. Nhƣ vậy, khái niệm các văn bản mang tính pháp lý nhƣ trong một số giáo trình về kỹ thuật soạn thảo văn bản [14, tr 35] gần nhƣ trùng khít với khái niệm văn bản pháp luật. Theo chúng tôi, văn bản pháp luật có những đặc trƣng khác với tác phẩm văn học, thƣ từ: - Đặc trưng về chủ thể: Văn bản pháp luật do các cơ quan Nhà nƣớc, ngƣời có thẩm quyền soạn thảo và ban hành.
Chỉ những văn bản do ngƣời đúng thẩm quyền ban hành mới có ý nghĩa pháp lý. - Đặc trưng về mục đích ban hành: Văn bản quản lý đƣợc ban hành nhằm mục đích thực hiện các nhiệm vụ chức năng của Nhà nƣớc. - Đặc trưng về trình tự ban hành, hình thức văn bản: Văn bản pháp luật đòi hỏi phải đƣợc xây dựng, ban hành theo những thủ tục định trƣớc, trái lại văn bản sẽ bị coi là vô hiệu. - Đặc trưng về bảo đảm thi hành: Văn bản pháp luật mang tính quyền lực Nhà nƣớc, bắt buộc các chủ thể khác phải thực hiện và đƣợc đảm bảo thực hiện bởi Nhà nƣớc nhƣ hoạt động tổ chức trực tiếp hoặc cƣỡng chế.
- Đặc trưng về văn phong: Văn bản pháp luật nhằm mục đích truyền đạt thông tin, mệnh lệnh từ chủ thể quản lý sang đối tƣợng quản lý một cách đầy đủ, chính xác nhất. Nó không cần biểu cảm nên nó mang đặc trƣng văn phong riêng, khác với văn phong nghệ thuật. Văn bản pháp luật thƣờng mang tính phổ quát, đạI chúng và không cần quá chi tiết nhƣ văn bản khoa học. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Văn bản pháp luật là một trong hai ngôn bản của quyết định pháp luật nên nó cũng có đầy đủ các tính chất của quyết định pháp luật.
Đó là tính ý chí, tính quyền lực Nhà nƣớc, tính pháp lý. Qua quá trình phân tích trên ta có thể đƣa ra khái niệm: “Văn bản pháp luật là một hình thức thể hiện quyết định pháp luật do các chủ thể có thẩm quyền ban hành theo thủ tục luật định, làm thay đổi hệ thống quy phạm pháp luật; hoặc đặt cơ sở cho sự thay đổi hệ thống quy phạm pháp luật; hoặc làm trực tiếp phát sinh, thay đổi, chấm dứt một quan hệ pháp luật cụ thể nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng cuả Nhà nước”. Đa số các học giả đều thống nhất văn bản pháp luật mang tính pháp lý nhƣng nhƣ thế nào là mang tính pháp lý? Văn bản chủ đạo nhƣ Nghị quyết của Chính phủ chứa đựng các đường lối chính sách chung chưa đặt ra các quy tắc hành vi cụ thể, chưa trực tiếp làm thay đổi hệ thống quy phạm pháp luật có được coi là văn bản pháp luật không? [21, tr 303]. Từ đó có hai quan niệm: Thứ nhất, văn bản pháp luật bao gồm văn bản quy phạm pháp luật và văn bản cá biệt cụ thể.
Thứ hai,văn bản pháp luật bao gồm: văn bản chủ đạo, văn bản quy phạm và văn bản cá biệt [17, tr 97-136]. Theo chúng tôi, văn bản chủ đạo là một loại văn bản pháp luật bởi. Thứ nhất, nó chứa đựng các chủ trƣơng, chính sách, định hƣớng tƣơng tự nhƣ các văn kiện của Đảng. Nhƣng nếu các chủ trƣơng, chính sách của Đảng muốn có ý nghĩa ràng buộc mọi công dân thì phải thể chế hoá qua pháp luật mặc dù việc thể chế hoá rất là trực tiếp và sát sao [10, 19]; và không thể viện dẫn các văn kiện Đảng để áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với một chủ thể.
Hay nói cách khác xét về mặt lý luận, thì các văn kiện Đảng dù có sát sao với các văn bản pháp luật thì cũng không đƣợc xem là nguồn của luật [Xem thêm Michael Bogdan, Luật so sánh, Bản dịch của Lê Hồng Hạnh và Dƣơng Thị Hiền, Hà Nội 2002]. Còn các văn bản chủ đạo do Nhà nƣớc ban hành và có hiệu lực ràng buộc 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mọi chủ thể khác, đƣợc Nhà nƣớc đảm bảo thực hiện bằng biện pháp tổ chức trực tiếp hoặc cƣỡng chế. Thứ hai, quyết định chủ đạo tuy không trực tiếp làm thay đổi hệ thống quy phạm nhƣng chúng đặt cơ sở cho sự thay đổi đó và sự phân chia ở đây cũng mang tính tƣơng đối. Mối quan hệ giữa văn bản chủ đạo và văn bản quy phạm mà ta đề cập ở đây cũng gần giống nhƣ mối quan hệ giữa quy phạm chung và quy phạm riêng.
Đây cũng chính là lý do mà Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật gọi chung hai loại văn bản này là văn bản quy phạm pháp luật. Các văn bản phát sinh trong các hoạt động tố tụng nhƣ bản án, cáo trạng, lệnh bắt. theo tôi cũng là một loại văn bản pháp luật đƣợc khái niệm trên chỉ tới. Nó là những văn bản đặc thù thƣờng đƣợc nghiên cứu kèm theo trong các lĩnh vực tố tụng mà chúng tôi không có dịp đề cập sâu ở đây.2 Phân loại văn bản quy phạm pháp luật: Hiện nay trong các giáo trình về luật học đã có nhiều cách phân chia quyết định pháp luật nói chung cũng nhƣ văn bản quy phạm pháp luật nói riêng theo nhiều tiêu chí khác nhau khá đầy đủ và khoa học, thuận tiện cho việc phân loại, tìm hiểu, nắm bắt, vận dụng văn bản quy phạm pháp luật.
Dƣới góc độ kỹ thuật lập pháp xin đƣa ra một vài cách phân loại mang ý nghĩa trong quá trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Theo phạm trù nội dung-hình thức: Văn bản quy phạm pháp luật đƣợc chia ra: văn bản chứa đựng quy phạm nội dung và văn bản chứa đựng quy phạm hình thức hay còn gọi là quy phạm thủ tục [20, tr 320]. Quy phạm nội dung là quy phạm trực tiếp ấn định các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các chủ thể; trả lời cho câu hỏi đƣợc làm gì, phải làm gì. Quy phạm hình thức là quy phạm điều chỉnh thủ tục pháp lý của hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện và bảo vệ các quy phạm nội dung; điều chỉnh thủ tục pháp lý của hoạt động thực hiện và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của những ngƣời tham gia các quan hệ pháp luật.
Quy phạm thủ tục trả lời câu hỏi “làm nhƣ thế nào”. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Xét về trật tự thời gian xây dựng ban hành, văn bản quy phạm pháp luật chứa đựng quy phạm nội dung về cùng một vấn đề, một lĩnh vực phải ban hành trƣớc văn bản quy phạm pháp luật chứa quy phạm hình thức. Nếu làm ngƣợc lại sẽ không có ý nghĩa. Việc ban hành quy phạm hình thức phải song song hoặc ngay sau khi ban hành quy phạm nội dung.
Nếu quy phạm nội dung đƣợc ban hành ra mà không có quy phạm hƣớng dẫn thực hiện, bảo đảm các quyền và nghĩa vụ thì quy phạm nội dung đó cũng trở thành chết cứng. Một quy phạm vật chất đƣợc ban hành muốn đƣợc thực thi trên thực tế thì bên cạnh các điều kiện kinh tế, xã hội, các học giả phƣơng Tây còn cho rằng mỗi quyền về nội dung thì phải có “tố quyền” kèm theo để bảo đảm cho quyền về nội dung đó không bị xâm phạm. Bảo đảm “tố quyền” ở đây đƣợc hiểu: Thứ nhất, một quy phạm nội dung ra đời thì phải có quy phạm hình thức tƣơng ứng để quy định thủ tục pháp lý thực hiện quyền đó. Thứ hai, cần phải có các thiết chế pháp lý tƣơng ứng nhƣ toà án, trọng tài.
để các chủ thể khi bị xâm hại các quyền vật chất có thể khiếu kiện đến và đƣợc bảo vệ. Qua khái niệm “tố quyền” ở trên một lần nữa cho thấy mối quan hệ biện chứng giữa cặp phạm trù nội dung-hình thức. Ví dụ trong một thủ tục tố tụng luôn xen lẫn các quy phạm thuần tuý về trình tự các bƣớc theo thời gian vừa xen lẫn các quy phạm về “quyền tố tụng”. Một quy phạm trong mối quan hệ thứ nhất là quy phạm nội dung, trong quan hệ thứ hai lại là quy phạm hình thức của một quy phạm khác.
Theo trình tự ban hành, văn bản quy phạm pháp luật đƣợc chia ra: - Văn bản quy phạm pháp luật đƣợc ban hành theo trình tự tập thể. Ví dụ: Nghị quyết. Nghị định của Chính phủ.