Luận văn thạc sĩ về hoàn thiện pháp luật về tự do lập hội ở Việt Nam hiện nay

Luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu vnu ls hoàn thiện pháp luật về tự do lập hội ở việt nam hiện nay, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp cải thiện thực

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ luật học

2017

109
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỰ DO LẬP HỘI

1.1. Khái niệm, vai trò, nội dung của tự do lập hội

1.2. Mối quan hệ của tự do lập hội với các quyền con người khác

1.3. Những yếu tố tác động và những điều kiện bảo đảm thực thi tự do lập hội

1.4. Tự do lập hội trong pháp luật nhân quyền quốc tế, khu vực và tại một số quốc gia trên thế giới

1.5. Kết luận Chương 1

2. CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ TỰ DO LẬP HỘI TẠI VIỆT NAM TỪ TRƯỚC ĐẾN NAY

2.1. Pháp luật về tự do lập hội tại Việt Nam trước Đổi mới (1986)

2.2. Pháp luật về tự do lập hội tại Việt Nam từ Đổi mới (1986) đến nay

2.3. Những bất cập, hạn chế và những yêu cầu đặt ra với việc hoàn thiện pháp luật về tự do lập hội tại Việt Nam và nguyên nhân. Phân tích, đánh giá nội dung Dự thảo Luật về Hội của Việt Nam

2.4. Kết luận Chương 2

3. CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TỰ DO LẬP HỘI TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

3.1. Các quan điểm nhằm hoàn thiện pháp luật về tự do lập hội

3.2. Các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về tự do lập hội

3.3. Kết luận Chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về tự do lập hội tại Việt Nam hiện nay

Tự do lập hội là một trong những quyền cơ bản của con người, được ghi nhận trong Hiến pháp Việt Nam. Quyền này cho phép công dân tự do thành lập và tham gia các tổ chức, hội nhóm nhằm bảo vệ quyền lợi và lợi ích chung. Trong bối cảnh hiện nay, tự do lập hội không chỉ là một quyền mà còn là một yếu tố quan trọng trong việc phát triển xã hội dân sự tại Việt Nam. Tuy nhiên, thực trạng thực thi quyền này vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập.

1.1. Khái niệm và vai trò của tự do lập hội

Tự do lập hội được hiểu là quyền của công dân trong việc thành lập và tham gia các tổ chức xã hội. Quyền này không chỉ giúp người dân thể hiện tiếng nói của mình mà còn tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển của xã hội dân sự. Theo Điều 25 Hiến pháp 2013, công dân có quyền tự do lập hội, tuy nhiên, việc thực hiện quyền này vẫn gặp nhiều rào cản.

1.2. Tình hình thực hiện quyền tự do lập hội tại Việt Nam

Mặc dù quyền tự do lập hội đã được ghi nhận trong Hiến pháp, nhưng thực tế cho thấy nhiều tổ chức, hội nhóm vẫn gặp khó khăn trong việc đăng ký và hoạt động. Các quy định pháp luật hiện hành chưa đủ rõ ràng và cụ thể, dẫn đến việc áp dụng không đồng nhất và gây khó khăn cho các tổ chức xã hội trong việc hoạt động.

II. Những thách thức trong việc thực hiện tự do lập hội tại Việt Nam

Việc thực hiện quyền tự do lập hội tại Việt Nam hiện nay đang đối mặt với nhiều thách thức. Những thách thức này không chỉ đến từ quy định pháp luật mà còn từ nhận thức của xã hội và các cơ quan chức năng.

2.1. Các rào cản pháp lý đối với tự do lập hội

Nhiều quy định pháp luật hiện hành còn thiếu tính minh bạch và cụ thể, dẫn đến việc các tổ chức xã hội gặp khó khăn trong việc đăng ký và hoạt động. Các quy định này cần được xem xét và sửa đổi để phù hợp với thực tiễn.

2.2. Nhận thức của xã hội về tự do lập hội

Nhận thức của một bộ phận người dân và cán bộ nhà nước về quyền tự do lập hội còn hạn chế. Điều này dẫn đến sự e ngại và thiếu tin tưởng trong việc tham gia các tổ chức xã hội, ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội dân sự.

III. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về tự do lập hội tại Việt Nam

Để nâng cao hiệu quả thực hiện quyền tự do lập hội, cần có những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao nhận thức của xã hội.

3.1. Cải cách khung pháp lý về tự do lập hội

Cần rà soát và sửa đổi các quy định pháp luật liên quan đến tự do lập hội, đảm bảo tính minh bạch và dễ hiểu. Việc này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức xã hội hoạt động hiệu quả hơn.

3.2. Tăng cường tuyên truyền và giáo dục về quyền tự do lập hội

Cần có các chương trình tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của người dân và cán bộ nhà nước về quyền tự do lập hội. Điều này sẽ giúp tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển của xã hội dân sự.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về tự do lập hội

Nghiên cứu về tự do lập hội không chỉ giúp hiểu rõ hơn về thực trạng mà còn đưa ra những giải pháp thiết thực cho việc hoàn thiện pháp luật. Các kết quả nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền này có thể mang lại nhiều lợi ích cho xã hội.

4.1. Các mô hình tổ chức xã hội thành công

Nhiều tổ chức xã hội tại Việt Nam đã hoạt động hiệu quả, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội. Những mô hình này cần được nhân rộng và hỗ trợ để phát huy vai trò của xã hội dân sự.

4.2. Kết quả từ các nghiên cứu thực tiễn

Các nghiên cứu thực tiễn cho thấy, việc thực hiện quyền tự do lập hội không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của người dân mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội. Cần tiếp tục nghiên cứu và đánh giá để có những điều chỉnh phù hợp.

V. Kết luận và triển vọng tương lai về tự do lập hội tại Việt Nam

Tự do lập hội là một quyền cơ bản của con người, cần được bảo vệ và phát triển. Trong tương lai, việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao nhận thức về quyền này sẽ góp phần vào sự phát triển của xã hội dân sự tại Việt Nam.

5.1. Tầm quan trọng của tự do lập hội trong xã hội hiện đại

Tự do lập hội không chỉ là quyền của cá nhân mà còn là yếu tố quan trọng trong việc xây dựng một xã hội dân chủ và văn minh. Cần nhận thức rõ vai trò của quyền này trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

5.2. Triển vọng phát triển tự do lập hội tại Việt Nam

Với những nỗ lực cải cách và hoàn thiện pháp luật, tự do lập hội tại Việt Nam có triển vọng phát triển mạnh mẽ hơn trong tương lai. Điều này sẽ tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển của xã hội dân sự và bảo vệ quyền lợi của người dân.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls hoàn thiện pháp luật về tự do lập hội ở việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỰ DO LẬP HỘI 1. Khái niệm, vai trò, nội dung của tự do lập hội 1. Khái niệm về “hội” và tự do lập hội Trong mọi xã hội, bên cạnh không gian của bộ máy nhà nước với tư cách là các tổ chức quyền lực công, thực hiện chức năng quản lý xã hội bằng chính sách và pháp luật, là không gian của xã hội dân sự, được cấu thành bởi các nhóm, tổ chức xã hội, phản ánh ý chí và sự quan tâm của người dân [18, tr. Xã hội dân sự đóng vai trò quan trọng là cầu nối các cá nhân với nhà nước; tham gia và hoạch định các chính sách cùng Nhà nước; tổ chức phản biện xã hội và giám sát các hoạt động của cơ quan, công chức nhà nước, cũng như hoạt động của doanh nghiệp nhằm bảo vệ quyền lợi của con người nói chung; góp phần huy động và sử dụng các nguồn lực hiệu quả nhằm thúc đẩy sự phát triển của toàn xã hội [8, tr.

Cốt lõi của xã hội dân sự là hệ thống các tổ chức rộng lớn do người dân tự nguyện lập nên với một số đặc điểm như sau: - Là tổ chức do dân tự nguyện lập ra, không thuộc chính phủ; - Hoạt động nhằm mục đích phi lợi nhuận, các khoản lợi nhuận (nếu có) không được phân với mục đích tư lợi, không phải là doanh nghiệp; - Tiến hành các hoạt động hợp tác không vì mục đích thương mại hoặc nhân đạo; - Tự chủ, độc lập về tài chính, nguồn thu cho chi phí hoạt động đến từ sự đóng góp tự nguyện của các hội viên hoặc nhận tài trợ từ các tổ chức khác hoặc chính phủ. Trong đó các yếu tố tự nguyện, tự quản và tự trang trải kinh phí là những điểm nổi bật của các tổ chức xã hội dân sự. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các nhóm, tổ chức này tồn tại dưới nhiều hình thức đa dạng như câu lạc bộ, tổ chức phi chính phủ, tổ chức phi lợi nhuận, tổ chức tôn giáo, các quỹ, công đoàn, tổ chức cộng đồng, hội nghề nghiệp, hội sở thích,… hay gọi bằng danh từ chung là các hội. Theo từ điển tiếng Việt, “hội” được định nghĩa là “tổ chức của những người cùng chung một nghề nghiệp hoặc có chung một hoạt động” [21, tr.

Trong các tài liệu nghiên cứu của khoa học xã hội, “hội” được định nghĩa là sự thỏa thuận, tập hợp, liên kết nhiều người tạo thành nhóm nhằm hướng đến các mục đích, lợi ích hay sự quan tâm chung [18, tr. Đoạn 51 trong Báo cáo A/HRC/20/27 của Báo cáo viên LHQ về tự do hội họp và hiệp hội, Maina Kiai năm 2013, nêu định nghĩa hội là bất cứ các nhóm của các cá nhân hoặc các pháp nhân được tập hợp nhằm thực hiện các hành động tập thể, biểu đạt, thúc đẩy, theo đuổi hoặc bảo vệ những lợi ích chung. Nhiều quốc gia trên thế giới đã ban hành các đạo luật riêng về hội. Theo đó, “hội” trong luật pháp một số quốc gia được định nghĩa như sau: Điều 2 Luật về Hội của Cộng hòa Liên bang Đức ban hành ngày 5/8/1964 quy định: Hiệp hội được định nghĩa bởi đạo luật này, không liên quan đến hình thức pháp lý, là bất kỳ hiệp hội nào mà đa số những người tự nhiên hoặc pháp nhân đã tự nguyên gia nhập trong một thời gian dài với mục đích chung và có sự tổ chức.

Hiệp hội theo định nghĩa này không bao gồm các đảng chính trị quy định tại Điều 21 Đạo luật cơ bản. Điều 1 Luật về Hội của Cộng hòa Pháp ban hành ngày 1/7/1901 quy định: Hội là một thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều người cùng góp kiến thức hoặc hành động một cách thường xuyên vì mục đích phi lợi nhuận. Dựa vào năng lực pháp luật của hội, hội được điều chỉnh bởi luật áp dụng đối với hợp đồng và trái vụ. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Điều 78 Bộ luật dân sự và thương mại của Vương quốc Thái Lan quy định: Việc thành lập hội nhằm tiến hành những hoạt động nào đó có tính chất chung và liên tục, không nhằm mục đích sinh lời hoặc thu nhập để chia nhau, có điều lệ và đăng ký theo quy định của bộ luật này.

Tại Việt Nam, theo Điều 2 Nghị định số 45/2010/NĐ-CP quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội, hội được hiểu là: Tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội, hội viên, của cộng đồng; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, được tổ chức và hoạt động theo Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan. Nói cách khác, hội được thành lập dựa trên sự thỏa thuận của các cá nhân, mang tính chất tự nguyện, các cá nhân được tự do quyết định bằng ý chí của mình tham gia hoặc không tham gia hội. Hội cũng là nơi các cá nhân được liên kết nhằm chia sẻ những mối quan tâm chung trên các lĩnh vực tôn giáo, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,… hoặc đơn giản là nơi tập hợp các cá nhân có chung sở thích. Tùy thuộc vào pháp luật từng quốc gia mà hội bắt buộc phải đăng ký tư cách pháp nhân hoặc không.

Lập hội là việc các cá nhân liên kết, tập hợp lại với nhau thành nhóm hướng đến những lợi ích, mục đích hay sự quan tâm chung [37]. Việc lập hội của các cá nhân giúp hình thành nên các hội, nhóm – là cốt lõi của xã hội dân sự, vì vậy, tự do lập hội, hiệp hội có vai trò thiết yếu để xã hội dân sự tồn tại và phát triển. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tự do lập hội (còn gọi là “quyền tự do lập hội”), là nhu cầu tự nhiên và cơ bản của con người. Con người bẩm sinh sinh ra đã có nhu cầu giao tiếp, được kết nối và trở thành một phần của cộng đồng, được tự do gắn kết và sẻ chia với những cá nhân khác có cùng mối quan tâm, mà không phụ thuộc vào phong tục tập quán, truyền thống văn hóa hay ý chí của bất cứ cá nhân, giai cấp, tầng lớp, tổ chức, cộng đồng hay Nhà nước nào.

Vì lẽ đó, quyền tự do lập hội là quyền tự nhiên và quyền cơ bản của con người mà không một chủ thể nào, bao gồm cả Nhà nước, có quyền ban phát hoặc tước đoạt quyền đó khỏi các cá nhân [11, tr. Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 ghi nhận tại Điều 20 rằng “Mọi người đều có quyền tự do hội họp và lập hội một cách hòa bình”. Tại Việt Nam, quyền tự do lập hội luôn được ghi nhận trong Hiến pháp với tư cách là quyền của công dân. Điều 25, Hiến pháp 2013 quy định “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hôi, biểu tình.

Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Mặc dù so với luật nhân quyền quốc tế và luật pháp của một số quốc gia, quy định của Hiến pháp Việt Nam còn hẹp khi giới hạn chủ thể quyền tự do lập hội chỉ thuộc về công dân Việt Nam, nhưng cũng cần ghi nhận rằng Việt Nam đang tiếp tục thúc đẩy các quyền và tự do cơ bản của con người đến gần hơn với các tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế. Vai trò của tự do lập hội Tự do lập hội là cần thiết cho sự phát triển của xã hội dân sự. Về vấn đề này, Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Pháp, Tocqueville đã viết trong tác phẩm “Nền dân trị Mỹ”: Khi các công dân chỉ có thể được kết hội trong một số trường hợp, họ sẽ nhìn hiệp hội như một vật hiếm và đặc biệt, và họ không buồn nghĩ đến những thứ hội hè ấy nữa.

10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khi ta để cho công dân được kết hội tự do thành đủ mọi thứ hội, họ sẽ nhìn thấy trong hiệp hội cái phương tiện phổ biến, có thể nói là phương tiện duy nhất con người có thể đem dùng để đạt tới những mục tiêu khác nhau do họ định ra. Mỗi nhu cầu mới lại đánh thức một tư tưởng. Nghệ thuật kết hội khi đó trở thành khoa học mẹ,…; mọi người đều nghiên cứu và áp dụng nó. Theo nhận định của Tocqueville, chính các hiệp hội đã giúp xã hội Mỹ vận hành trơn tru vào thế kỉ 19, bởi quyền tự do lập hội giúp người dân và các cộng đồng giải quyết các vấn đề xã hội và kinh tế mà không cần đến sự can thiệp của nhà nước [38].

Điều đó cũng đồng nghĩa rằng, tự do lập hội đã trao quyền cho dân chúng được làm chủ cuộc sống của mình, được tự do lựa chọn người đại diện cho mình tham gia vào chính phủ qua bầu cử công bằng, và được tham gia tích cực vào đời sống chính trị và dân sự. Vì vậy, quyền tự do lập hội là thành phần thiết yếu của nền dân chủ hiệu quả. Quyền tự do lập hội có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy một loạt các quyền con người con người khác. Trong báo cáo năm 2013 của Báo cáo viên đặc biệt Maina Kiai khẳng định, quyền tự do lập hội trao quyền cho tất cả mọi người được thể hiện quan điểm chính trị, tham gia vào các hoạt động văn hóa, kinh tế và xã hội, tham gia vào các nghi lễ tôn giáo hoặc các niềm tin khác, và bầu lãnh đạo để đại diện cho lợi ích của họ và tăng trách nhiệm giải trình.

Sự phụ thuộc và liên quan lẫn nhau giữa các quyền làm cho quyền tự do lập hội trở thành một trong những khía cạnh quan trọng để đánh giá sự tôn trọng của Nhà nước với những quyền con người khác [26]. Đối với nhóm quyền dân sự và chính trị, nhờ có quyền tự do lập hội, các cá nhân được liên kết với nhau để thể hiện những mối quan tâm chung, đưa ra những ý kiến mang tính chất tập thể của một bộ phận hoặc đông đảo quần chúng nhân dân về các chính sách của Nhà nước hoặc lên tiếng trước 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các vấn đề của xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ