CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT VỀ ĐẠI DIỆN LAO ĐỘNG 1.1 Tình hình nghiên cứu và các vấn đề đã được nghiên cứu 1.1 Tình hình nghiên cứu lý luận về đại diện lao động và pháp luật về đại diện lao động 1.1 Tình hình nghiên cứu lý luận về đại diện lao động Nghiên cứu quan niệm về đại diện lao động Trong cuốn “Quan hệ lao động trong hội nhập kinh tế quốc tế”của TS.Lê Thanh Hà[36]; trong bài viết “Công đoàn Việt Nam và pháp luật điều chỉnh hoạt động công đoàn trong quan hệ lao động”của TS. Nguyễn Hữu Chí[17] và trong luận án “Pháp luật công đoàn trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” của TS. Trần Thị Thanh Hà (năm 2012, Học viện chính trị - Hành chính Quốc gia)[40] các tác giả đã đưa ra khái niệm công đoàn và xác định công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội do tập thể người lao động tự nguyện lập ra đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động. Theo đó, khái niệm công đoàn được xem xét, tiếp cận với tư cách là một hình thức đại diện lao động.
Các nghiên cứu cũng đề cập đến khái niệm đại diện lao động một cách khái quát trong Giáo trình Luật lao động của PGS. Nguyễn Hữu Chí[18], trong đó khái niệm đại diện lao động được tiếp cận dưới góc độ pháp lý và được định nghĩa “là tổ chức (người) được thành lập hợp pháp, nhân danh tập thể (người lao động) nhằm xác lập quan hệ và thực hiện các hành vi nhất định để bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động”. Khái niệm đại diện lao động cũng được tác giả ThS. Đào Mộng Điệp đề cập đến trong bài báo “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của đại diện lao động”[31].
Theo đó, đại diện lao động được hiểu là tổ chức được thành lập hợp pháp hoặc người đứng đầu do tập thể lao động bầu ra tham gia quan hệ lao động để bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của người lao động. Các công trình nghiên cứu nêu trên mới chỉ tiếp cận quan niệm về tổ chức 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com công đoàn (một hình thức đại diện lao động) hoặc chỉ tiếp cận quan niệm về đại diện lao động ở một phương diện, khía cạnh cụ thể mà chưa tiếp cận khái niệm đại diện lao động một cách hệ thống dưới các phương diện về ngôn ngữ, kinh tế, xã hội và phương diện pháp lý. Nghiên cứu phân loại đại diện lao động Các nghiên cứu đã đề cập đến phân loại đại diện lao động một cách khái quát trên cơ sở các tiêu chí về tính chất và căn cứ phát sinh hình thức đại diện lao động. Theo đó, đại diện lao động được tác giả PGS.
Nguyễn Hữu Chí trong Giáo trình Luật lao động[18] phân loại thành đại diện lao động theo thỏa thuận hoặc theo pháp luật, đại diện lao động trực tiếp hoặc đại diện lao động gián tiếp. Nghiên cứu của tác giả Robert E. Baldwin trong “The decline of US Labor Unions and the role of Trade”[113]; nghiên cứu của tác giả Roger Blapain trong “Systems of employee representation at the enterprise”[115] và nghiên cứu “Decentralizing industrial relations and the role of labour unions and employee representatives”của Roger Blanpain[114], các tác giả đều đề cập đến hình thức đại diện lao động là tổ chức công đoàn và hình thức đại diện không thuộc tổ chức công đoàn tại nơi làm việc qua khảo sát tại một số quốc gia như Úc, Pháp, Đức, Nhật Bản, Mỹ, Canada. Đồng thời, các nghiên cứu này cũng đề cập đến các yếu tố tác động làm suy giảm thành viên của tổ chức đại diện lao động và đề xuất giải pháp xây dựng một hệ thống đại diện lao động hiệu quả trong giai đoạn lực lượng lao động phong phú, đa dạng của quá trình toàn cầu hóa.
Trong nghiên cứu “Đại diện quyền lợi người lao động tại Cộng hòa Liên Bang Đức” của GS. Wolfgang Werner Daeubler[27], tác giả đã phân tích các hình thức đại diện lao động tại Cộng hòa Liên Bang Đức, phân tích hình thức đại diện lao động là tổ chức công đoàn thông qua ký kết thỏa ước lao động tập thể, đại diện quyền lợi người lao động thông qua Hội đồng xí nghiệp, đại diện quyền lợi người lao động trong các thủ tục tố tụng tại Tòa lao động. Trong đó, tác giả đã đánh giá sự khác nhau cơ bản giữa các hình thức thực hiện đại diện lao động tại Cộng hòa Liên Bang Đức và mối liên hệ giữa các hình thức này. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong bài báo “Hình thức thực hiện quyền đại diện lao động của Cộng hòa Liên bang Đức và Việt Nam dưới góc nhìn luật so sánh” của tác giả ThS.
Đào Mộng Điệp[34] mới chỉ tiếp cận việc phân loại đại diện lao động dưới góc độ chủ thể thực hiện quyền đại diện lao động tại Cộng hòa Liên bang Đức và Việt Nam. Có thể khẳng định, các công trình nghiên cứu chưa tiếp cận một cách có hệ thống việc phân loại đại diện lao động dưới nhiều góc độ về chủ thể đại diện lao động, tính chất của đại diện lao động, phạm vi của đại diện lao động. Nghiên cứu vai trò của đại diện lao động trong nền kinh tế thị trường Một trong những nghiên cứu mang tính tiên phong và nòng cốt phản ánh những vấn đề cốt lõi nhất về quyền lao động và thương mại quốc tế phải kể đến cuốn: “Trade, Employment and Labour standards: A study of core worker’s Rights and Internatinonal Trade” của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế OECD[119]. Ấn phẩm này đã giải quyết một số vấn đề gây tranh cãi về tiêu chuẩn thương mại và lao động trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng tăng; nội dung cơ bản của các tiêu chuẩn lao động; cơ chế thúc đẩy các tiêu chuẩn lao động; mối quan hệ giữa tiêu chuẩn lao động cơ bản, thương mại, đầu tư trực tiếp nước ngoài phát triển kinh tế và vấn đề việc làm.
Đồng thời nghiên cứu này cũng đánh giá một cách có hệ thống những vấn đề thương mại, việc làm và tiêu chuẩn lao động ở các cấp độ và phạm vi khác nhau nhằm phát triển đối thoại toàn cầu và tăng cường đầu tư và phát triển thương mại quốc tế. Trong đó, Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế đặc biệt chú trọng nhấn mạnh đến nguyên tắc cơ bản và quyền tại nơi làm việc của người lao động, tập trung làm rõ bốn vấn đề cơ bản về tự do lập hội và công nhận hiệu quả của quyền thương lượng tập thể; loại bỏ các hình thức lao động cưỡng bức; bãi bỏ lao động trẻ em và phân biệt đối xử trong việc làm, nghề nghiệp. Nghiên cứu này là nền tảng vững chắc để các quốc gia có cách nhìn nhận đúng đắn hơn khi thừa nhận và tôn trọng thực hiện quyền cơ bản của người lao động trong đó có quyền tự do lập hội và thương lượng tập thể. Sẽ không toàn diện khi không đề cập đến cuốn: “Rights at work: an assessment of the Declaration’s technical cooperation in select countries” của tác giả Colin Fenwick and Thomas Kring[116] khi đề cập đến các nguyên tắc cơ bản và 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quyền tại nơi làm việc.
Nghiên cứu này đề cập đến tuyên bố của Tổ chức lao động quốc tế về nguyên tắc cơ bản và quyền tại nơi làm việc của người lao động thông qua việc khảo sát tại một số quốc gia như Indonexia, Morocco, Brazil và Việt Nam. Trong đó, các tác giả đề cập và bàn luận một cách sâu sắc các vấn đề về điều kiện kinh tế, thị trường lao động, tình trạng của các nguyên tắc cơ bản và quyền tại nơi làm việc, sự tự do liên kết và quyền thương lượng tập thể, vai trò của đối thoại xã hội, tình trạng đối xử công bằng, không phân biệt đối xử cũng như việc xây dựng khả năng để tăng cường sự tự do liên kết, thương lượng tập thể và thúc đẩy phát triển quan hệ lao động bền vững. Nghiên cứu cũng khẳng định nguyên tắc cơ bản và quyền tại nơi làm việc cần phải được tôn trọng và bảo đảm thực hiện. Nó được xem là chìa khoá của toàn cầu hoá và phát triển bền vững.
Đồng thời chỉ rõ tuyên bố của Tổ chức lao động quốc tế về nguyên tắc cơ bản và quyền tại nơi làm việc góp phần quan trọng trong việc bảo vệ quyền công dân ở Indonexia, cải cách điều kiện về kinh tế xã hội, góp phần trong việc xây dựng khả năng hợp tác mối quan hệ ba bên (Nhà nước, người sử dụng lao động, người lao động) trong quan hệ lao động, thúc đẩy quan hệ công nghiệp và đối thoại xã hội tại Việt Nam. Bên cạnh đó, tuyên bố của Tổ chức lao động quốc tế cũng có ý nghĩa cơ bản trong việc tăng khả năng bảo vệ quyền con người, chống phân biệt đối xử và cải thiện tình trạng lao động của Brazil. Trong nghiên cứu “Decentralizing industrial relations and the role of labour unions and employee representatives”của Roger Blanpain[114] tác giả đã đề cập đến phân quyền trong quan hệ công nghiệp, mối quan hệ giữa công đoàn với tổ chức đại diện người lao động, vai trò của tổ chức công đoàn và đại diện người lao động trong quan hệ lao động tại các nước như Nhật Bản, Đức, Ý, Anh, đánh giá quyền của tổ chức công đoàn cũng như vai trò của tổ chức công đoàn và đại diện người lao động trong bảo vệ quyền lợi của tập thể lao động. Trong nghiên cứu “Trade Unions and the Betrayal of the Employed: Labor conflicts during the 1990’s”, của Immanuel Ness[118], tác giả đã phản ánh tầm quan trọng của tổ chức công đoàn đối với vấn đề thất nghiệp, mối quan hệ của tổ chức công đoàn và những người lao động thất nghiệp, thái độ, hành động của tổ 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chức công đoàn đối với những người thất nghiệp tại New York.
Đồng thời, tác giả phản ánh vai trò, vị trí của tổ chức công đoàn trong hệ thống tư bản chủ nghĩa cũng như mối quan hệ giữa tổ chức công đoàn với các Đảng chính trị. Tác giả Jeannette Wicks-limtrong “Creating decent jobs in the United states.The role of labour unions and collective bargaining”[120] cũng đã chỉ ra rằng thách thức tạo việc làm trong cuộc khủng hoảng suy thoái kinh tế tại nước Mỹ có mối liên hệ với tổ chức công đoàn. Tác giả đã đề cập đến sự tác động của hệ thống chính sách cũng như sự tham gia của tổ chức công đoàn sẽ bảo đảm tăng trưởng việc làm cho người lao động.