đặt vấn đề điều chỉnh lại đất nông nghiệp đã giao cho hộ gia đình 14 và cá nhân, nhƣng Nhà nƣớc có chính sách phù hợp để đất nông nghiệp đƣợc ngƣời trực tiếp sản xuất nông nghiệp sử dụng với hiệu quả cao nhất. Đất đai đƣợc phân bổ hợp lý, sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả cao; bảo đảm lợi ích trƣớc mắt và lâu dài, bảo vệ môi trƣờng sinh thái, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nƣớc; nâng cao chất lƣợng và bảo vệ đất canh tác nông nghiệp, bảo đảm an ninh lƣơng thực quốc gia. Chính sách, pháp luật về đất đai phải góp phần ổn định chính trị - xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, hội nhập quốc tế; huy động tốt nhất nguồn lực từ đất để phát triển đất nƣớc; bảo đảm hài hoà lợi ích của Nhà nƣớc, của ngƣời sử dụng đất và của nhà đầu tƣ; bảo đảm cho thị trƣờng bất động sản, trong đó có quyền sử dụng đất, phát triển lành mạnh, ngăn chặn tình trạng đầu cơ. Sử dụng có hiệu quả các công cụ về giá, thuế trong quản lý đất đai nhằm khắc phục tình trạng lãng phí, tham nhũng, khiếu kiện.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nƣớc về đất đai ; đẩy mạnh cải cách hành chính , bảo đảm công khai , minh bạch trong quản lý đất đai. Phát triển đa dạng các loại hình dich ̣ vu ̣ về đấ t đai. Xây dƣ̣ng hê ̣ thố ng quản lý đấ t đai tiên tiến, ƣu tiên đầu tƣ xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu, hạ tầng thông tin đất đai hiện đại. Tăng cƣờng sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nƣớc, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và toàn dân trong thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai.
Bảo đảm sự quản lý thống nhất của Nhà nƣớc cấp Trung ƣơng về đất đai, đồng thời phân cấp phù hợp cho địa phƣơng, có chế tài xử lý nghiêm các hành vi vi phạm chính sách, pháp luật về đất đai. Kiên quyết lập lại trật tự trong quản lý, sử dụng đất đai [42]. Nhƣ vậy, việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý đất đai nói chung, pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nói riêng phải phù hợp với chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách của Đảng trong 15 công cuộc đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, nhằm quản lý, sử dụng quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế - xã hội một cách hiệu quả, tránh lãng phí tham nhũng, khiếu kiện. Đảm bảo có sự thống nhất trong quản lý quỹ đất của nhà nƣớc từ Trung ƣơng đến địa phƣơng.
Chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước 1. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nước ta giai đoạn hiện nay Chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 đã đƣợc Đại hội lần thứ XI của Đảng thông qua với các quan điểm: Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lƣợc. Trong đó, phải đặc biệt coi trọng giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cƣờng quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ để bảo đảm cho đất nƣớc phát triển nhanh và bền vững. Đổi mới đồng bộ, phù hợp về kinh tế và chính trị vì mục tiêu xây dựng nƣớc Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nƣớc mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con ngƣời; coi con ngƣời là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển. Phát huy lợi thế dân số và con ngƣời Việt Nam, nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực, trọng dụng nhân tài, chăm lo lợi ích chính đáng và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của mọi ngƣời dân, thực hiện công bằng xã hội. Phát triển mạnh mẽ lực lƣợng sản xuất với trình độ khoa học, công nghệ ngày càng cao; đồng thời hoàn thiện quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa; tạo môi trƣờng cạnh tranh bình đẳng, minh bạch. Phát triển đồng bộ, hoàn chỉnh và ngày càng hiện đại các loại thị trƣờng.
Tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý và phân phối, bảo đảm công bằng lợi ích, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. 16 Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội nước ta qua các giai đoạn 2016 - 2020 Ngày 12/4/2016, Quốc hội đã họp phiên toàn thể biểu quyết thông qua Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2016 - 2020. Theo đó các mục tiêu tổng quát gồm: Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, phấn đấu tăng trƣởng kinh tế cao hơn 5 năm trƣớc.
Đẩy mạnh thực hiện các đột phá chiến lƣợc, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trƣởng, nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh. Phát triển văn hoá, thực hiện dân chủ, tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, tăng cƣờng phúc lợi xã hội và cải thiện đời sống nhân dân. Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trƣờng. Tăng cƣờng quốc phòng, an ninh, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.
Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và chủ động hội nhập quốc tế. Giữ gìn hòa bình, ổn định, tạo môi trƣờng, điều kiện thuận lợi để xây dựng và bảo vệ đất nƣớc. Nâng cao vị thế của nƣớc ta trên trƣờng quốc tế. Phấn đấu sớm đƣa nƣớc ta cơ bản trở thành nƣớc công nghiệp theo hƣớng hiện đại.[43] Pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế - xã hội phải phù hợp với chiến lƣợc và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội mà Đảng, Quốc hội và Chính phủ đƣa ra.
Có nghĩa là pháp luật về quản lý quỹ đất phải giúp tạo ra quỹ đất đồng bộ để phát triển về kinh tế, xã hội,. và đặc biệt, pháp luật quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế - xã hội phải đƣợc xây dựng trên nguyên tắc bảo vệ môi trƣờng, phát triển bền vững. Qúa trình cải cách nền hành chính quốc gia Ngày 17 tháng 09 năm 2001 Thủ tƣớng Chính Phủ đã ban hành Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg về Phê duyệt chƣơng trình tổng thể cải cách hành chính nhà nƣớc giai đoạn 2001 - 2010, trong đó có các nội dung quan trọng có ảnh hƣởng lớn đến pháp luật về quản lý quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nhƣ: Về cải cách thể chế có các nội dung quan trọng sau Một là, đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật Rà soát và hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật theo từng lĩnh vực, loại bỏ những quy định pháp luật không còn hiệu lực hoặc chồng chéo, trùng lắp. Ban hành các quy định bảo đảm sự tham gia có hiệu quả của nhân dân vào quá trình xây dựng pháp luật, tổ chức tốt việc lấy ý kiến đóng góp của các tầng lớp nhân dân, của những ngƣời là đối tƣợng điều chỉnh của văn bản trƣớc khi ban hành.
Hai là, bảo đảm việc tổ chức thực thi pháp luật nghiêm minh của cơ quan nhà nƣớc, của cán bộ, công chức. Trong đó, đặc biệt phải phát huy hiệu lực của các thiết chế thanh tra, kiểm sát và tài phán để bảo đảm hiệu lực quản lý nhà nƣớc, giữ gìn kỷ cƣơng xã hội. Xử lý nghiêm ngƣời có hành vi sách nhiễu, hách dịch, vô trách nhiệm; khen thƣởng những ngƣời hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đƣợc giao. Ba là, tiếp tục cải cách thủ tục hành chính nhằm bảo đảm tính pháp lý, hiệu quả, minh bạch và công bằng trong khi giải quyết công việc hành chính.
Loại bỏ những thủ tục rƣờm rà, chồng chéo dễ bị lợi dụng để tham nhũng, gây khó khăn cho dân; Mở rộng thực hiện cơ chế "một cửa" trong việc giải quyết công việc của cá nhân và tổ chức ở các cơ quan hành chính nhà nƣớc các cấp. 18 Về Cải cách tổ chức bộ máy hành chính Một là, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, bố trí lại cơ cấu tổ chức của Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và chính quyền địa phƣơng các cấp cho phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nƣớc trong tình hình mới. Hai là, mục tiêu, đến năm 2005, về cơ bản ban hành xong và áp dụng các quy định mới về phân cấp trung ƣơng - địa phƣơng, phân cấp giữa các cấp chính quyền địa phƣơng, nâng cao thẩm quyền và trách nhiệm của chính quyền địa phƣơng, tăng cƣờng mối liên hệ và trách nhiệm của chính quyền trƣớc nhân dân địa phƣơng. Ba là, cải tiến phƣơng thức quản lý, lề lối làm việc của cơ quan hành chính các cấp, loại bỏ những việc làm hình thức, không có hiệu quả thiết thực, giảm hội họp, giảm giấy tờ hành chính.
Tăng cƣờng trách nhiệm và năng lực của cơ quan hành chính trong giải quyết công việc của cá nhân và tổ chức. Về thực hiện từng bước hiện đại hóa nền hành chính Triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động chỉ đạo, điều hành của hệ thống hành chính nhà nƣớc; áp dụng các công cụ, phƣơng pháp quản lý tiên tiến, hiện đại trong các cơ quan hành chính nhà nƣớc. Tăng cƣờng đầu tƣ để đến năm 2010, các cơ quan hành chính có trang thiết bị tƣơng đối hiện đại, cơ quan hành chính cấp xã trong cả nƣớc có trụ sở và phƣơng tiện làm việc bảo đảm nhiệm vụ quản lý; mạng tin học diện rộng của Chính phủ đƣợc thiết lập tới cấp xã.