Chương 1: Khái quát chung về quản lý chất gây ô nhiễm trên biển và pháp luật về quản lý chất gây ô nhiễm trên biển. Chương 2: Thực trạng pháp luật về quản lý chất gây ô nhiễm trên biển ở Việt Nam hiện nay. Chương 3: Đề xuất một số ý kiến bước đầu nhằm hoàn thiện khung pháp luật về quản lý chất gây ô nhiễm trên biển ở Việt Nam. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢN LÝ CHẤT GÂY Ô NHIỄM TRÊN BIỂN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT GÂY Ô NHIỄM TRÊN BIỂN 1.
Tổng quan về quản lý chất gây ô nhiễm trên biển 1. Chất gây ô nhiễm trên biển 1. Một số khái niệm cơ bản a. Môi trường biển: Theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982 thì: Môi trường biển bao gồm các tài nguyên sinh vật, hệ sinh thái biển và chất lượng nước biển, cảnh quan biển (Điều 1.
Như vậy, "môi trường biển không chỉ bao gồm các vùng biển với các đặc trưng lý hóa của chúng mà còn cả tài nguyên sinh vật, vật lý và hóa học của vùng cửa sông, các vùng ngập mặn bao gồm cả trầm tích, các vùng thủy triều lên xuống, các vùng đầm lầy…" [18, tr. 13] và bầu khí quyển phía trên mặt biển. Ngoài ra, các hoạt động của con người cũng là một phần của môi trường biển vì chúng tác động trực tiếp làm thay đổi chất lượng của các vùng ven biển. Tại Nghị định 25/2009/NĐ-CP về quản lý tổng hợp tài nguyên và Bảo vệ môi trường biển, hải đảo đã đưa ra định nghĩa: Môi trường biển là các yếu tố vật lý, hóa học và sinh học đặc trưng cho nước biển, đất ven biển, trầm tích dưới biển, không khí trên mặt biển và các hệ sinh thái biển tồn tại một cách khách quan, ảnh hưởng đến con người và sinh vật (Điều 3.
Ô nhiễm môi trường biển: Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 định nghĩa: "Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường" (Điều 3); Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 định nghĩa ô nhiễm môi trường biển là: việc con người trực tiếp 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoặc gián tiếp đưa các chất liệu hoặc năng lượng vào môi trường biển, bao gồm cả các cửa sông, khi việc đó gây ra hoặc có thể gây ra những tác hại như gây tổn hại đến nguồn lợi sinh vật, và đến hệ động vật và thực vật biển, gây nguy hại cho sức khỏe con người, gây trở ngại cho các hoạt động ở biển, kể cả việc đánh bắt hải sản và các việc sử dụng biển một cách hợp pháp khác, làm biến đổi chất lượng biển về phương diện sử dụng nó và làm giảm sút các giá trị mỹ cảm của biển [22, Điều 1. Kiểm soát ô nhiễm biển: Là tổng hợp các hoạt động, hành động, biện pháp và công cụ nhằm phòng ngừa, khống chế không cho sự ô nhiễm xảy ra, hoặc khi xảy ra ô nhiễm thì có thể chủ động xử lý, làm giảm thiểu hay loại trừ được nó. Kiểm soát ô nhiễm bao gồm việc ngăn ngừa ô nhiễm, làm giảm một phần hoặc loại bỏ chất thải từ nguồn, làm sạch môi trường, thu gom, sử dụng lại, xử lý chất thải, phục hồi chất lượng môi trường do ô nhiễm gây ra. Kiểm soát ô nhiễm có thể chia làm hai phần: ngăn ngừa ô nhiễm hay còn gọi là kiểm soát ô nhiễm đầu vào và làm sạch ô nhiễm hay còn gọi là kiểm soát ô nhiễm đầu ra [14].
Ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển: Bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học (Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường). Từ khái niệm trên cho thấy ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển là việc hạn chế, loại bỏ các nguồn, "giảm thiểu các khả năng, các tác động có khả năng gây ô nhiễm môi trường hoặc ngăn chặn sự lan truyền tổn hại môi trường từ vùng này sang vùng khác, chuyển từ trạng thái tổn hại này sang 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trạng thái tổn hại môi trường khác" [24, tr. 434] qua đó kiểm soát, chế ngự và hạn chế đến mức thấp nhất khả năng biển bị ô nhiễm. Trong các hoạt động Bảo vệ môi trường thì nguyên tắc phòng ngừa là quan trọng nhất theo chủ trương "phòng hơn chống" do đó ngăn ngừa ô nhiễm được đặt lên hàng đầu so với khắc phục, xử lý ô nhiễm (Điều 4 Luật Bảo vệ môi trường).
Nguồn gây ô nhiễm trên biển: Ô nhiễm môi trường biển xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau, từ đất liền đổ ra và từ các hoạt động sử dụng biển. Các nguồn ô nhiễm môi trường biển đã được Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) thống kê và được Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982 quy định cụ thể tại các điều 207 - 212, bao gồm các nguồn ô nhiễm chủ yếu sau: - Ô nhiễm biển từ đất liền: Các nguồn ô nhiễm từ đất liền theo sông ngòi mang ra biển như dầu và sản phẩm dầu, nước thải, phân bón nông nghiệp, thuốc trừ sâu, chất thải công nghiệp, chất thải phóng xạ và nhiều chất ô nhiễm khác. Hàng năm, các chất thải rắn đổ ra biển gồm đất, cát, rác thải, phế liệu xây dựng, chất phóng xạ. Một số chất thải loại này sẽ lắng tại vùng biển ven bờ.
Một số chất khác bị phân hủy và lan truyền trong toàn khối nước biển. - Ô nhiễm do hoạt động liên quan đến đáy biển, công trình thiết bị trên biển: Hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí, khoáng sản và tàng trữ chúng trên biển là nguồn gây ô nhiễm biển nghiêm trọng như các hiện tượng rò rỉ, phụt dầu, vỡ đường ống, vỡ bể chứa, sự cố tại các giàn khoan, cơ sở lọc dầu, do dung dịch khoan, bùn khoan và do các phương tiện vận chuyển, con người phục vụ cho việc khai thác dầu khí, khoáng sản trên biển gây ra. - Ô nhiễm biển từ tàu: Ô nhiễm biển từ tàu là do hoạt động của tàu thải ra những chất gây ô nhiễm cho môi trường biển khi làm sạch các hầm hàng có chứa cặn dầu hay hóa chất độc hại hoặc tháo nước dằn bẩn (ballast) có chứa 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cặn dầu; do tai nạn đâm va, chìm đắm tàu làm cho toàn bộ lượng hàng hóa (dầu hay hóa chất độc hại) bị chìm trong nước biển gây sự cố tràn dầu trên biển, ô nhiễm toàn bộ khu vực lân cận; do khâu giao nhận dầu nhiên liệu thiếu cẩn thận trong các khâu kỹ thuật, không tuân thủ những quy tắc kỹ thuật trong bốc dỡ hàng là dầu hoặc hóa chất độc hại. - Ô nhiễm biển do nhận chìm và trút bỏ chất thải: Trước đây biển được coi là nơi chứa chất thải rộng lớn do vậy các quốc gia đã tiến hành đổ thải rất nhiều chất thải độc hại một cách có ý thức và không có ý thức một lượng lớn các chất thải độc hại như chất thải phóng xạ, chất thải công nghiệp, hoá chất bền vững như DDT… thậm chí nhiều quốc gia trên thế giới đã bí mật đổ, nhận chìm chất thải hạt nhân, hóa học ra biển.
- Ô nhiễm biển từ bầu khí quyển: Ô nhiễm không khí có tác động mạnh mẽ tới ô nhiễm biển. Nồng độ CO2 cao trong không khí sẽ làm cho lượng CO2 hòa tan trong nước biển tăng. Nhiều chất độc hại và bụi kim loại nặng được không khí mang ra biển. Sự gia tăng nhiệt độ của khí quyển trái đất do hiệu ứng nhà kính sẽ kéo theo sự dâng cao mực nước biển và thay đổi môi trường sinh thái biển.
- Ô nhiễm biển từ tự nhiên: Bên cạnh các nguồn ô nhiễm nhân tạo trên, biển có thể bị ô nhiễm bởi các quá trình tự nhiên như núi lửa phun, tai biến bão lụt, sự cố rò rỉ dầu tự nhiên v. Luật Bảo vệ môi trường 2005 đưa ra định nghĩa chất gây ô nhiễm là chất hoặc yếu tố vật lý khi xuất hiện trong môi trường thì làm cho môi trường bị ô nhiễm và định nghĩa chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác. Như vậy, từ những khái niệm nêu trên có thể đưa ra một định nghĩa đầy đủ về chất gây ô nhiễm biển như sau: Chất gây ô nhiễm biển là toàn bộ các 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thành phần có nguyên nhân từ những biến đổi bất thường của tự nhiên hoặc được phát sinh trong các hoạt động kinh tế- xã hội của con người, bao gồm các hoạt động sản xuất và hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng gây ra hoặc có thể gây ra những tác hại như suy giảm chức năng và tính hữu ích của môi trường biển, gây tổn hại đến nguồn lợi sinh vật, và đến hệ động vật và hệ thực vật biển, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, gây trở ngại cho các hoạt động ở biển, kể cả việc đánh bắt hải sản và các việc sử dụng biển một cách hợp pháp khác, làm biến đổi chất lượng nước biển về phương diện sử dụng nó và làm giảm sút các giá trị mĩ cảm của biển. Những tác động của chất gây ô nhiễm trên biển đến môi trường Có hai nguyên nhân tạo nên chất ô nhiễm trên biển, thứ nhất là do con người gây nên thông qua việc con người đưa vào môi trường biển các chất gây ô nhiễm (dưới dạng chất liệu và năng lượng) ở mức vượt quá khả năng tự chuyển hóa (tự phân hủy, tự làm sạch) của môi trường biển.
Thứ hai, các chất gây ô nhiễm phát tán trong môi trường biển bằng nhiều chu trình khác nhau, qua đó gây tổn hại đến nguồn lợi sinh vật sống, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, gây trở ngại cho các hoạt động ở biển.