Chương I: Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật kinh tế trong quá trình đổi mới quản lý kinh tế ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dan Lao. Chương 2: Thực trạng pháp luật kinh tế của Lào. Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luat kinh tế của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. 11 Chuong I CO SO LY LUAN CUA VIEC HOAN THIEN PHAP LUAT KINH TE TRONG QUA TRINH DOI MỚI QUAN LY KINH TẾ Ở NƯỚC CONG HOA DAN CHU NHÂN DAN LAO 1.
VAI TRO CUA NHÀ NƯỚC VA PHÁP LUAT TRONG QUAN LÝ KINH TE 1. Vai trò của Nha nước trong quản lý kinh tế Nhà nước một mặt là thiết chế quyền lực chính trị của một (hoặc một nhóm) giai cấp này đối với giai cấp khác trong xã hội, đồng thời còn là quyền lực công đại diện cho lợi ích chung của cộng đồng xã hội nhằm duy trì và phát triển xã hội. Trong xã hội có giai cấp, quyền lực chính trị thuộc về giai cấp thống trị hay liên minh các giai cấp thống trị. Bằng quyền lực chính trị, giai cấp thống trị bắt các giai cấp khác phải phục tùng ý chí của mình.
Nhà nước là công cụ cơ bản của quyền lực chính trị, là bộ máy đặc biệt để cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý xã hội. Sự tồn tại của Nhà nước trước hết là bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, đồng thời là đại diện cho toàn thể xã hội thực hiện những hoạt động nhằm duy trì và phát triển xã hội. Quản lý là một tất yếu khách quan khi "có sự tác động phối hợp của nhiều người”, khi "có sự hợp tác của số đông người” [7, tr. Quan lý tồn tại từ lâu trong lịch sử, từ trước khi chưa có Nhà nước và không chỉ Nhà nước mới thực hiện chức năng quản lý.
Tuy nhiên, quản lý là một chức năng, một hình thức hoạt động cơ bản của Nhà nước. Cơ quan quản lý nhà nước (cơ quan hành chính của Nhà nước) có nội dung hoạt động là đảm bảo việc chấp hành pháp luật nhằm thực hiện có hiệu quả ý chí của Nhà nước. Xét về mặt kinh tế, quản lý kinh tế là các hoạt động chủ quan của chủ thể vì mục tiêu lợi ích của hệ thống, bao đảm cho hệ thống tổn tai, phát Lư triển lâu dài, trang trải vốn và lao động, bảo đảm tính độc lập và cho phép thỏa mãn những đòi hỏi xã hội của Nhà nước và của mọi cá nhân trong hệ thống. Mục tiêu của hệ thống do Nhà nước đảm nhận, họ là chủ sở hữu của hệ thống và là người nắm quyền lực của hệ thống.
Nói một cách khác, quản lý kinh tế tùy thuộc vào chủ sở hữu của hệ thống. Đây là sự khác biệt về chất giữa quản lý XHCN và quản lý tư bản chủ nghĩa (TBCN). Khi trình độ của lực lượng sản xuất và trình độ xã hội hóa phát triển chưa cao thì bản thân nền kinh tế chưa đặt ra những yêu cầu đặc biệt đối với quản lý nhà nước. Từ khi hình thành xã hội, lúc con người có của thừa thì vấn đề sở hữu cũng được đặt ra và trở thành tâm điểm của mọi sự tranh chấp và xung đột giữa cá nhân, nhóm người, cộng đồng và xã hội.
Sở hữu, nhất là sở hữu tư liệu sản xuất trở thành thước đo trình độ phát triển của chế độ và xã hội. Dưới chế độ chiếm hữu nô lệ, quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tư liệu sản xuất thuộc về các tù trưởng và các thủ lĩnh trong các bộ tộc. Con người cũng được xem như là một thứ tư liệu sản xuất mà chủ sở hữu có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Quyền sở hữu của thiểu số các chủ sở hữu chi phối toàn xã hội, dẫn đến nhiều bất công (người lao động chỉ là nô lệ và bị chà đạp hết sức dã man) và tất yếu dẫn đến sự tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ.
Vấn đề là phải xem xét lại chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất của xã hội. Trong chế độ phong kiến, giai cấp phong kiến là kẻ làm chủ các tư liệu sản xuất. Quyền sở hữu tư liệu sản xuất dành cho các tập đoàn phong kiến với số lượng đông hơn các thủ lĩnh dưới thời chiếm hữu nô lệ. Người lao động, về cơ bản, vị thế xã hội không được thay đổi.
Họ vẫn là một thứ tài sản thuộc quyền sở hữu của chúa phong kiến. Các mâu thuẫn dưới thời chiếm hữu nô lệ vẫn không được cải thiện, mà chỉ thay đổi ở số lượng các nhà chiếm hữu tăng lên, tạo ra sức mạnh, đối trọng đối với người lao động lớn hơn. Lịch sử đã diễn ra sự suy tàn tất yếu của chế độ phong kiến - một 13 chế độ, nếu xét dưới góc độ sở hữu, vẫn dựa trên quyền sở hữu của nhóm nhỏ và con người cũng thuộc phạm trù sở hữu. - Chế độ TBCN, để dung hòa mâu thuẫn đối kháng giữa tư bản và vô sản, giữa chính quyền và tư sản, Nhà nước tư bản đã thực hiện chủ thuyết đa dạng hóa các quyền sở hữu, bao gồm: sở hữu cá nhân, sở hữu cộng đồng và sở hữu chung.
Ở hình thức sở hữu cá nhân, các nhà tư sản đã tiến hành các bước điều chỉnh cần thiết để mị dân, để né tránh mũi nhọn đấu tranh nhất thời. Các hoạt động lợi ích công cộng (thuộc sở hữu nhà nước, cộng đồng chung), được thực hiện với một tỷ lệ nhất định, nhằm không đẩy con người tới cái ngưỡng quá tải vì bị bóc lột và đẩy họ tới chỗ chết để khỏi buộc họ làm cách mạng lật đổ xã hội tư bản. Tính tất yếu của việc quản lý ngày càng tăng lên theo mức độ phát triển của nền kinh tế và gắn bó với những quan hệ ngày càng phức tạp trong cơ cấu kinh tế tư bản chủ nghĩa. Sự xuất hiện của thành phần kinh tế nhà nước và sự can thiệp ngày càng sâu của Nhà nước vào đời sống kinh tế đã làm tăng thêm vai trò quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.
Quá trình phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa đồng thời là quá trình mà vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước tư bản ngày càng tăng lên. Ở các nước tư bản, lực lượng sản xuất phát triển, trình độ xã hội hóa sản xuất cao do cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật tạo ra. Hơn thế nữa, xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế cũng như nguy cơ nổ ra các cuộc khủng hoảng đòi hỏi các nhà nước phải can thiệp mạnh vào đời sống kinh tế nhằm bảo đảm nền kinh tế phát triển và bảo tồn chế độ tư bản. Điều đó được thể hiện trên nhiều mặt: Hoạch định chiến lược phát triển kinh tế xã hội, các chương trình, kế hoạch, ban hành pháp luật kinh tế, các chính sách kinh tế như: Hàng rào thuế quan, cải cách điền địa, quốc hữu hóa hoặc tư nhân hóa xí nghiệp, chính sách tài trợ nông dân.
Ngày nay, không có nhà nước nào đứng ngoài đời sống kinh tế, không có một nền kinh tế thị trường "thuần khiết" không g có sư: điều tiết của Nhà nước. 14 Ngày nay, trên thế giới hầu như không một Nhà nước nào từ bỏ vai trò quản lý nền kinh tế. Trong các nước tư bản phát triển cũng như ở nước Mỹ vốn được gọi là "thế giới tự do", "kinh doanh tự do” cũng được điều chỉnh bởi cơ chế độc quyền Nhà nước hết sức sâu sắc. Ngay từ những năm 20 và 30 của thế kỷ này, học thuyết của nhà kinh tế học Mỹ J.
Kên-xơ đã trở thành nổi tiếng với nội dung lý thuyết điều chỉnh Nhà nước tư bản. Khi phân tích quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội, J. Kên-xơ phát hiện ra rằng số lượng tiền tệ trong lưu thông, về nguyên tắc là phụ thuộc vào sự biến động giá cả hàng hóa, sản lượng và thu nhập quốc tế của nền kinh tế quốc dân, đạc biệt là rất nhạy với lãi suất. Chính vì vậy, Nhà nước hoàn toàn có khả năng can thiệp vào sự vận động của nền kinh tế bằng việc điều chỉnh khối lượng tiền tệ trong lưu thông cho gần sát với nhu cầu giá trị.
Kên-xơ cho rằng: khi nền kinh tế bị "sốt cao" vì các "đợt sóng" dồn dập của đầu tư tự phát, thì Nhà nước có thể tăng thuế và lãi suất tín dụng tiền cho vay để hạn chế bớt đầu tư. Trong trường hợp ngược lại, Nhà nước cần thực hiện một chính sách ưu đãi, hạ lãi suất tín dụng để tạo những kích thích "hâm nóng" nền kinh tế. Trong những trường hợp cần thiết, Nhà nước cần có cơ chế phát hành thêm tiền tệ đưa vào lưu thông và chủ động kích thích đầu tư mở rộng thị trường, kích thích tổng cầu với điều kiện là khối lượng tiền tệ Nhà nước phát hành ra không vượt quá khối lượng tiền tệ dự trữ trong xã hội và của Nhà nước. Kén-xo được vận dụng ở Mỹ và các nước khác như Anh, Pháp, Tây Đức.
Quản lý kinh tế của Nhà nước tư bản hiện đại được thể hiện ở một số nội dung sau đây: - Nhà nước hoạch định chiến lược phát triển nền kinh tế, lựa chọn khả năng phát triển kinh tế đất nước. Hiện nay, nhiều nước phát triển đứng trước yêu cầu cải cách cơ cấu kinh tế, các nhà nước tư bản tiếp tục thực hiện cải cách theo chủ nghĩa Keynes quốc tế, trong đó chú ý đến các phương pháp phân tích vĩ mô và đề cao vai trò của Nhà nước can thiệp vào kinh tế. 15 - Nhà nước thiết lập trật tự kinh tế thông qua hệ thống pháp luật, thực hiện những giới hạn và quy phạm đối với người sản xuất kinh doanh và người tiêu dùng kể cả Nhà nước cũng phải thực hiện các quy định của pháp luật. - Nhà nước giữ chức năng quản lý kinh tế xã hội, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô bằng chính sách kinh tế ngăn ngừa lạm phát, giải quyết nạn thất nghiệp, thực hiện các chính sách đối với người nghèo đói và những vấn đề xã hội, y tế, sức khỏe, môi trường.
- Nhà nước đảm bảo sử dụng có hiệu quả các nguồn năng lực tài nguyên và lao động thông qua việc ban bố các chính sách đầu tư, thực hiện các nguồn tài trợ nhà nước, phát triển hệ sinh thái. - Nhà nước quản lý các quan hệ ngoại thương, cấp giấy phép và hạn ngạch xuất nhập khẩu, thực hiện các chính sách đầu tư và kiểm soát các hoạt động thương mại quốc tế trong phạm vi lãnh thổ.