phần mở đầu, Báo cáo nghiên cứu gồm những phần chính như sau: Phần I: Một số khái quát chung về sở hữu trí tuệ; Phần II: Quy định về SHTT trong các cam kết quốc tế và luật pháp Việt Nam; Phần III: Thực trạng thi hành Luật Sở hữu trí tuệ và những yêu cầu đối với sửa đổi, bổ sung Luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam; Phần IV: Một số kiến nghị chính sách; và Kết luận 6 I. MỘT SỐ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ 1. Khái niệm sở hữu trí tuệ Tài sản trí tuệ thường được coi là những tài sản phi vật chất được hình thành từ những ý tưởng nguyên bản. Trên thực tế, tài sản trí tuệ cũng được gọi là sở hữu trí tuệ.
Quyền đối với tài sản trí tuệ thường gắn với việc kiểm soát những biểu hiện vật lý hoặc việc thể hiện những ý tưởng. Các luật, quy định về tài sản trí tuệ thường bảo vệ lợi ích của người sáng tạo nội dung thông qua việc cấp và thực thi các quyền hợp pháp trong việc sản xuất và kiểm soát các cách thể hiện hữu hình của những ý tưởng đó.2 Theo Điều 2 (VIII) của Công ước WIPO ngày 14/7/1967 về thành lập Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO), SHTT được định nghĩa là các quyền liên quan tới: Các tác phẩm văn học, tác phẩm nghệ thuật và tác phẩm khoa học; Buổi biểu diễn của các nghệ sĩ, bản ghi âm (thu âm), chương trình phát thanh, truyền hình; Sáng chế thuộc mọi lĩnh vực với sự nỗ lực sáng tạo của con người, xem thêm bằng sáng chế; Kiểu dáng công nghiệp; Nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ, tên thương mại và chỉ dẫn thương mại, thương hiệu, biểu trưng; Quyền bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh; và tất cả các quyền khác liên quan đến hoạt động trí tuệ của con người trong các lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học hoặc nghệ thuật.3 Theo các thông lệ và điều ước quốc tế như WIPO và TRIPS, các đối tượng SHTT bao gồm: các tác phẩm nghệ thuật, văn học, sáng tác nhạc, phim, ảnh, biểu diễn, chương trình ghi âm, phát thanh, truyền hình; các sáng chế/giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, thiết kế bố trí mạch, chương trình máy tính, tên miền internet. Danh mục các đối tượng SHTT mang tính chất mở, tùy theo sự phát triển của khoa học công nghệ và các hoạt động sáng tạo trong đời sống văn hóa, xã hội mà số lượng các đối tượng SHTT sẽ thay đổi và ngày càng tăng lên. Theo Luật Sở hữu trí tuệ 2005, quyền SHTT được định nghĩa là “quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng” (Quốc hội 2005).
Theo đó, quyền tác giả (QTG) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Quyền liên quan đến quyền tác giả (QLQ) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa. Quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) là quyền của tổ chức, cá nhân 2 Đại học Stanford (2018). 3 Tham khảo Wikipedia.
7 đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh. Quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc được hưởng quyền sở hữu. Theo dự thảo Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi), quyền SHTT bao gồm các đối tượng: Thứ nhất, đối tượng QTG bao gồm mọi sản phẩm sáng tạo trong các lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học được thể hiện dưới bất kỳ hình thức nào, không phân biệt nội dung và giá trị, được công bố hoặc không công bố, không phụ thuộc vào bất kì thủ tục nào. Thứ hai, đối tượng QLQ gồm có các cuộc biểu diễn, ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa.
Thứ ba, đối tượng quyền SHCN gồm có sáng chế/giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh. Thứ tư, đối tượng quyền đối với giống cây trồng như giống cây trồng và vật liệu nhân giống, vật liệu thu hoạch, sản phẩm chế biến từ vật liệu thu hoạch của giống được bảo hộ.4 Bảng 1: Phân biệt quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp Quyền TG Quyền SHCN Nguyên tắc chung Bảo hộ về hình thức Bảo hộ về nội dung Lĩnh vực Văn học, nghệ thuật, Công nghệ, thương mại khoa học Đối tượng bảo hộ Tác phẩm Sáng chế/giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu, tên thương mại, v. Thời hạn bảo hộ Bảo hộ vô thời hạn hoặc Bảo hộ có thời hạn có thời hạn Điều kiện bảo hộ Tính nguyên gốc, được Tính mới, tính sáng tạo, thể hiện dưới hình thức tính khác biệt, tính ứng vật chất nhất định dụng Thủ tục bảo hộ Bảo hộ tự động Yêu cầu đăng ký 4 Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT 2020. 8 Nguồn: Đoàn Đức Lương và cộng sự (2018).
Đối tượng SHTT có/bao gồm những đặc điểm sau: Thứ nhất, có tính sáng tạo và đổi mới: SHTT là việc vận dụng tư duy tưởng tượng và sáng tạo của trí tuệ con người để giải quyết các vấn đề về kỹ thuật và nghệ thuật. Các đối tượng SHTT dù trong lĩnh vực nào đều là kết quả của hoạt động sáng tạo và đổi mới, được tạo ra dựa trên nền tảng tri thức và thông tin đã được kết tụ, tích luỹ. Sáng tạo là động lực thúc đẩy đổi mới và ngược lại, đó là chìa khóa tạo nên những tiến bộ vượt bậc trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ (KH&CN) và nghệ thuật, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển và làm giàu thêm kho tàng của cải, vật chất và tinh thần của nhân loại. Thứ hai, có tính vô hình (hay đặc tính phi vật thể): Các đối tượng SHTT khác với các vật thể, tài sản hữu hình ở chỗ chúng không có bản chất vật lý (không thể nhận biết sự tồn tại của chúng nhờ các giác quan) và tồn tại dưới dạng các thông tin, tri thức chứa đựng nhận thức về tự nhiên, xã hội và con người (các hiện tượng, trạng thái, quy luật, v.
Đặc tính vô hình của các đối tượng SHTT là yếu tố đặc biệt quan trọng cần xem xét khi thiết kế các quy tắc ứng xử, bởi đây cũng là yếu tố gây khó khăn cho việc thiết lập chế độ kiểm soát và thực hiện biện pháp bảo vệ các đối tượng này. Thứ ba, đặc tính dễ bị xâm phạm. Với đặc thù phi vật thể, dễ lan truyền và khó nắm giữ ở một thời điểm nhất định như các tài sản hữu hình nên tài sản trí tuệ rất dễ bị xâm phạm. Các hành vi xâm phạm đối tượng SHTT cũng khó có thể xác định và kiểm soát.
Do vậy, việc thiết lập hệ thống quyền bảo vệ SHTT đang trở thành mối quan tâm của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Thứ tư, cơ chế bảo vệ các đối tượng SHTT không đồng nhất mà phụ thuộc vào luật pháp của từng quốc gia, phạm vi lãnh thổ được bảo vệ (theo quốc gia hoặc theo các hiệp ước quốc tế. Hình 2: Các đặc điểm của đối tượng SHTT Cơ chế bảo vệ không đồng nhất, mà phụ thuộc Tính sáng tạo và Đặc tính phi vật Đặc tính dễ bị theo quốc gia, đổi mới thể xâm phạm phạm vi lãnh thổ hoặc theo điều ước quốc tế 9 Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả. Quyền SHTT được chia thành hai nhóm.
Thứ nhất là nhóm quyền phát sinh tự nhiên nghĩa là quyền SHTT tự động được xác lập cùng với sự ra đời của tài sản trí tuệ mà không cần tiến hành bất cứ thủ tục pháp lý nào tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thời điểm phát sinh quyền SHTT trùng với thời điểm phát sinh đối tượng SHTT. Nhóm quyền SHTT phát sinh một cách tự nhiên, bao gồm: QTG, QLQ (quyền đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; các cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình; chương trình phát sóng; tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa) và một số ít các quyền SHCN (quyền đối với tên thương mại, bí mật kinh doanh và nhãn hiệu nổi tiếng). Thứ hai là nhóm quyền phát sinh trên cơ sở đăng ký nghĩa là quyền SHTT chỉ phát sinh hoặc được xác lập trên cơ sở đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục, trình tự luật định.
Ngược lại với nhóm trên, ở đây, quyền SHTT không tự động phát sinh mà theo cơ chế quyền chỉ được trao khi đã tiến hành một số thủ tục pháp lý nhất định. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ xem xét đơn đăng ký theo trình tự, thủ tục và tiêu chuẩn do pháp luật về SHTT quy định. Nếu đáp ứng các yêu cầu luật định, chủ thể quyền (có thể là tổ chức hoặc cá nhân) sẽ được cấp một chứng chỉ (văn bằng bảo hộ) với ý nghĩa thừa nhận, xác nhận tổ chức, cá nhân đó có quyền đối với đối tượng SHTT trong thời hạn và phạm vi tương ứng. Các quyền SHTT đối với các đối tượng SHTT được xác lập theo chứng chỉ (văn bằng bảo hộ) được cấp.
Nhóm quyền SHTT phát sinh theo cơ chế này bao gồm phần lớn các quyền SHCN (quyền đối với sáng chế/giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý) và quyền đối với giống cây trồng. Về đặc điểm của quyền, quyền SHTT là một loại quyền sở hữu nhưng các quyền năng chủ yếu tập trung vào quyền sử dụng và quyền định đoạt.5 Bản chất của các đối tượng SHTT – tài sản trí tuệ là vô hình, nên việc nắm giữ, quản lý nó là không thể thực hiện được một cách bình thường như các dạng tài sản hữu hình khác. Đặc tính vô hình và chức năng thông tin – tri thức cho phép loại đối tượng SHTT này có khả năng di động một cách không có giới hạn và đồng thời hiện diện ở nhiều nơi. Do đó, việc thực hiện quyền năng chiếm hữu dạng tài sản này là không thể và không có ý nghĩa.