Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển công nghệ thông tin từ năm 1986 đến năm 2010" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Đỗ Hoàng Ánh dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Ngô Đăng Tri và PGS.TS Trần Kim Đỉnh, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (mã số chuyên ngành: 62 22 56 01).
Tính cấp thiết của đề tài được xác lập từ bối cảnh cuộc Cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại, đặc biệt là sự phát triển của công nghệ thông tin (CNTT), thúc đẩy xã hội loài người chuyển dịch từ văn minh công nghiệp sang văn minh hậu công nghiệp và xã hội thông tin. Đối với Việt Nam, CNTT được xác định là ngành động lực, đầu tàu hỗ trợ phương thức phát triển rút ngắn, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và cải cách hành chính (CCHC). Đồng thời, việc làm chủ CNTT giữ vai trò cốt lõi trong bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin (ATTT) và quốc phòng trong tình hình mới. Mặc dù Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đã ban hành nhiều chủ trương và quyết sách, quá trình hoạch định và tổ chức chỉ đạo thực tế vẫn còn những hạn chế cần được tổng kết khoa học.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ chủ trương và sự chỉ đạo của ĐCSVN đối với phát triển CNTT từ năm 1986 đến năm 2010, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm có giá trị khoa học và thực tiễn. Tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:
- Phục dựng bối cảnh lịch sử và làm rõ những nhân tố tác động tới sự lãnh đạo phát triển CNTT của ĐCSVN từ năm 1986 đến năm 2010.
- Làm rõ nhận thức, quan điểm, chủ trương của Đảng trong phát triển CNTT từ năm 1986 đến năm 2010; đồng thời phân tích, làm rõ những giải pháp, biện pháp Đảng đề ra trong quá trình hiện thực hóa chủ trương, khôi phục chân thực và khách quan lịch sử sự lãnh đạo phát triển CNTT của Đảng.
- Làm rõ kết quả về sự lãnh đạo của Đảng đối với CNTT; tổng kết, đánh giá những ưu điểm, thành tựu và những hạn chế trong sự lãnh đạo của Đảng; làm rõ căn nguyên của những hạn chế, thách thức còn tồn tại.
- Rút ra nhận xét và đúc kết kinh nghiệm từ sự lãnh đạo của Đảng đối với phát triển CNTT giai đoạn 1986 - 2010.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là quan điểm, chủ trương, chính sách, giải pháp và biện pháp do ĐCSVN đề ra trong quá trình lãnh đạo phát triển CNTT. Phạm vi nghiên cứu về không gian diễn ra trên lãnh thổ Việt Nam; phạm vi thời gian từ năm 1986 (thời điểm khởi xướng đường lối Đổi mới) đến năm 2010 (kết thúc nhiệm kỳ Đại hội X và đánh dấu 10 năm triển khai Chỉ thị 58-CT/TW của Bộ Chính trị).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã hệ thống hóa và phân tích tình hình nghiên cứu đi trước qua bốn nhóm công trình chính:
Nhóm các bài báo nghiên cứu chuyên đề:
- Nghiên cứu về vai trò và tác động văn minh của CNTT: Văn Thông (1995) với "Công nghệ thông tin trong nền văn minh quốc gia"; Trương Gia Bình và Khúc Trung Kiên (1997) với "Công nghệ thông tin trước ngưỡng cửa của thế kỷ 21"; Nguyễn Thị Lan Hương phân tích tác động của CNTT tới lực lượng sản xuất từ góc độ triết học; Vũ Đình Cự (Tạp chí Cộng sản) nhấn mạnh CNTT là cốt lõi của lực lượng sản xuất mới gắn với kinh tế tri thức; Trần Văn Sỹ luận giải về bản chất CNTT ánh xạ bản chất thế giới.
- Nghiên cứu về an ninh, quốc phòng và chiến tranh mạng: Đỗ Xuân Thiện, Ira Winkler, Ngô Tứ Thành ("Mô hình chiến tranh trong thế kỷ XXI"), Nguyễn Ngọc Dương, cùng các bài viết về ATTT của Thủy Nguyên, Nguyễn Thùy Mai, Hoàng Quân, Hà Trần, Chu Văn Vệ, Trần Văn Hòa, Hồ Thế Hòe.
- Nghiên cứu về CCHC, kinh tế và giáo dục: Đinh Duy Hòa (Đinh Văn Hòa), Lê Văn Điệu (ứng dụng CNTT trong hành chính và chính phủ điện tử); Bạch Hưng Khang, Vũ Quang Phiệt (kinh tế tri thức và mô hình CNH); Vũ Đình Chuẩn (mô hình giáo dục điện tử).
Nhóm sách chuyên khảo:
- Phan Đình Diệu, Nguyễn Thúc Hải, Quách Tuấn Ngọc, Đặng Hữu Đạo, Đỗ Trung Tuấn ("Công nghệ thông tin: tổng quan và một số vấn đề cơ bản").
- Hoàng Lê Minh và cộng sự ("Công nghệ thông tin và con người"); Vũ Đình Cự ("Khoa học công nghệ thông tin và điện tử - triển vọng phát triển và ứng dụng trong hai thập niên tới" và "Khoa học và công nghệ hướng tới thế kỷ XXI: định hướng và chính sách").
- Phan Xuân Dũng chủ biên ("Công nghệ tiên tiến và công nghệ cao với tiến trình công nghiệp hoá hiện đại hoá ở Việt Nam"); Trương Khánh Châu và Lê Thế Mẫu ("Đặc trưng công nghệ quân sự Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng"); Tạ Bá Hưng ("Khoa học và công nghệ phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững"); Phạm Văn Dũng ("Phát triển thị trường khoa học - công nghệ Việt Nam"); Lê Minh Toàn ("Quản lý nhà nước về bưu chính, viễn thông và CNTT ở Việt Nam"); các ấn phẩm chuyên khảo của Viện Kinh tế Bưu điện (2003), Viện Chiến lược Bưu chính, Viễn thông và CNTT (2004), Viện Khoa học giáo dục Việt Nam.
Nhóm luận án tiến sĩ:
- Nguyễn Thị Lan Hương (Tiến sĩ Triết học, nghiên cứu tác động của CNTT đối với xã hội hiện đại); Hà Thị Hương Lan, Nguyễn Thị Kim Thu (Tiến sĩ Kinh tế, nghiên cứu công nghiệp hỗ trợ); Nguyễn Huy Ngọc (Tiến sĩ Khoa học chính trị, nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng đối với báo điện tử); Bế Trung Anh (Tiến sĩ Xã hội học, nghiên cứu cán bộ quản lý Hà Nội dưới ảnh hưởng của CNTT); Lưu Lâm (Tiến sĩ Quản lý giáo dục); Nguyễn Minh Ngọc, Đào Đức Lâm (Tiến sĩ Kinh tế, nghiên cứu ứng dụng CNTT trong ngành thuế và chuyển giao công nghệ).
Nhóm công trình đề cập trực tiếp đến sự lãnh đạo của Đảng đối với CNTT:
- Các nghiên cứu của Đỗ Trung Tá, Kim Ngọc Việt, Tô Hồng Nam, Thiên Phái, Anh Dũng, Đặng Đình Đường, Lê Thu Hiền, Quách Hồng Trang, Tô Hương Giang, Nguyễn Trọng Đường, Nguyễn Văn Thảo, Trần Đình Toản, Hồ Thủy Sơn, Tùng Sơn, Đức Phát về thể chế quản lý, đào tạo nhân lực trong Đề án 112, ứng dụng CNTT trong cơ quan Đảng qua Đề án 47 và Đề án 06.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra: Phần lớn các công trình đi trước tiếp cận CNTT dưới góc độ kỹ thuật công nghệ, kinh tế, giáo dục hoặc quốc phòng đơn lẻ; các tài liệu đề cập đến đường lối của Đảng chủ yếu mang tính trích dẫn minh họa, chưa có công trình nào nghiên cứu lịch sử một cách toàn diện, chuyên sâu và có hệ thống về toàn bộ quá trình ĐCSVN lãnh đạo phát triển CNTT trong suốt thời kỳ Đổi mới từ năm 1986 đến năm 2010.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận án dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp hệ thống quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của ĐCSVN về khoa học, công nghệ và thông tin liên lạc.
- Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic làm chủ đạo, kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành và liên ngành: phân tích, tổng hợp, thống kê, đối chiếu, so sánh và phân tích văn bản sử liệu.
- Nguồn tư liệu:
- Văn kiện chính thức của Đảng: Văn kiện các Đại hội Đảng toàn quốc (Đại hội III, IV, V, VI, VII, VIII, IX, X); các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương (Nghị quyết Trung ương 8 khóa VII, Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII...); các Chỉ thị, Thông báo, Quyết định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Thường trực Bộ Chính trị (Chỉ thị 14-CT/TW, Chỉ thị 58-CT/TW, Thông báo 44-TB/TW, Công văn 1417-CV/VPTW...); báo cáo, tờ trình của các ban đảng Trung ương.
- Văn bản quy phạm pháp luật và quản lý của Nhà nước: Các Luật (Luật Báo chí 1990, Luật Xuất bản 1993, Luật Hình sự 1999, Luật CNTT 2006); Nghị quyết và Quyết định của Chính phủ/Hội đồng Bộ trưởng (Nghị quyết 173-CP, Nghị quyết 245-CP, Quyết định 134-HĐBT, Nghị định 135-HĐBT, Nghị định 24/CP, Nghị quyết 49/CP, Quyết định 1605/QĐ-TTg, các văn bản triển khai Chương trình quốc gia về CNTT, Đề án 112...).
- Tư liệu nghiên cứu khoa học: Các chuyên khảo, kỷ yếu khoa học, luận án tiến sĩ và số liệu thống kê ngành bưu chính, viễn thông và CNTT.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này phân tích toàn diện 4 nhóm công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến CNTT và sự lãnh đạo của Đảng đối với CNTT. Tác giả khái quát 3 nhận xét cơ bản: (1) Số lượng công trình về kỹ thuật và ứng dụng CNTT rất phong phú nhưng công trình nghiên cứu chuyên sâu về sự lãnh đạo của Đảng còn khiêm tốn; (2) Cách tiếp cận chủ yếu thuần túy công nghệ hoặc kinh tế, thiếu tính hệ thống lịch sử chính trị; (3) Mối quan hệ giữa sự lãnh đạo của Đảng và bước chuyển phát triển của CNTT Việt Nam chưa được đúc kết thành bài học lịch sử hoàn chỉnh. Từ đó, chương xác định 5 vấn đề tồn tại mà luận án giải quyết: quá trình nhận thức đổi mới tư duy, hệ thống chủ trương, công tác chỉ đạo tổ chức thực hiện, đánh giá ưu điểm - hạn chế và đúc kết kinh nghiệm.
Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với phát triển công nghệ thông tin giai đoạn 1986 - 1999
Chương 2 phân tích hai chặng đường:
Cơ sở hoạch định trước năm 1986 và yêu cầu mới:
- Điểm lại tư tưởng Hồ Chí Minh về thông tin liên lạc (1941, 1946, 1953) và chỉ đạo của Người về máy tính điện tử, toán cao cấp.
- Hệ thống hóa các mốc kỹ thuật: năm 1962 cử cán bộ học máy tính tại Liên Xô; thành lập Phòng Toán học tính toán (5/1968); các Nghị quyết 173-CP (1975), 245-CP (1976); thành lập Cục Máy tính điện tử (9/1976) và Viện Khoa học Tính toán và Điều khiển (12/1976); chế tạo máy tính FT-1977, FT85, VT81, VT82; nhập 20 máy IBM PC 16-bit năm 1981; Nghị quyết 37-NQ/TW của Bộ Chính trị (20/4/1981); thành lập Tổng cục Điện tử và Kỹ thuật tin học (1983); thành lập Viện Nghiên cứu Công nghệ quốc gia (1984 theo Nghị định 135-HĐBT).
Chủ trương và chỉ đạo giai đoạn 1986 - 1999:
- Nghị quyết 26-NQ/TW (1991) của Bộ Chính trị và Đại hội VII (1991) đưa KHCN sang mục kinh tế, xác định CNTT là công nghệ mũi nhọn.
- Hội nghị Trung ương 4 khóa VII (1993) chỉ đạo đưa tin học vào trường phổ thông và cải cách giáo dục.
- Báo cáo Bộ Chính trị và Nghị quyết 07-NQ/HNTW ngày 30/7/1994 (Hội nghị Trung ương 7 khóa VII) chính thức thống nhất sử dụng thuật ngữ "công nghệ thông tin", đề ra chủ trương CNH "không tuần tự" dựa trên công nghệ cao.
- Nghị quyết Trung ương 8 khóa VII (1995) chỉ đạo tin học hóa quản lý hành chính nhà nước.
- Đại hội VIII (1996) và Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (02-NQ/HNTW ngày 24/12/1996) khẳng định CNTT là ngành kinh tế trọng điểm, quyết định xây dựng hạ tầng thông tin quốc gia và hai khu công nghệ cao tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.
- Quá trình ra quyết định kết nối Internet: Thông báo số 44-TB/TW (3/2/1997), Chỉ thị số 14-CT/TW (9/4/1997) và Công văn số 1417-CV/VPTW (18/11/1997) cho phép hòa mạng Internet chính thức vào tháng 11/1997 theo nguyên tắc "quản lý chắc đến đâu mở rộng đến đó".
- Về mặt tổ chức và pháp luật: Quyết định 134-HĐBT (1987); giải thể Tổng cục Điện tử và Kỹ thuật tin học chuyển giao cho Bộ Cơ khí và Luyện kim (1988); ban hành Nghị quyết 49/CP (1993), Nghị định 24/CP (1993); các luật quản lý thông tin liên quan.
| Mốc văn bản / Sự kiện |
Thời gian |
Cơ quan ban hành |
Nội dung cốt lõi |
| Nghị quyết 37-NQ/TW |
20/04/1981 |
Bộ Chính trị |
Phát triển công nghiệp điện tử, vi điện tử, kỹ thuật tính toán và mạng thông tin KHKT |
| Quyết định thành lập Tổng cục Điện tử & KTTH |
14/12/1983 |
Bộ Chính trị |
Thành lập cơ quan trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng quản lý ngành điện tử và kỹ thuật tin học |
| Nghị quyết 26-NQ/TW |
30/03/1991 |
Bộ Chính trị |
Xác định các lĩnh vực KHCN mũi nhọn, tạo môi trường phát triển KHCN thời kỳ Đổi mới |
| Nghị quyết 49/CP |
04/08/1993 |
Chính phủ |
Lần đầu định nghĩa khái niệm CNTT, phê duyệt phát triển CNTT trong những năm 90 |
| Nghị quyết 07-NQ/HNTW |
30/07/1994 |
BCH Trung ương khóa VII |
Thống nhất dùng thuật ngữ CNTT; xác định mô hình CNH không tuần tự dựa trên công nghệ cao |
| Nghị quyết 02-NQ/HNTW |
24/12/1996 |
BCH Trung ương khóa VIII |
Chiến lược phát triển KHCN đến 2020; xây dựng 2 khu CNC Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh |
| Thông báo 44-TB/TW |
03/02/1997 |
Thường vụ Bộ Chính trị |
Đồng ý sử dụng Internet thực nghiệm; lập Ban điều phối quốc gia mạng Internet |
| Chỉ thị 14-CT/TW |
09/04/1997 |
Bộ Chính trị |
Lãnh đạo quản lý, khai thác Internet theo phương châm quản lý chắc đến đâu mở đến đó |
| Công văn 1417-CV/VPTW |
18/11/1997 |
Văn phòng Trung ương Đảng |
Thông báo Thường vụ Bộ Chính trị đồng ý chính thức hòa mạng Internet vào tháng 11/1997 |
Chương 3: Sự lãnh đạo của Đảng đối với công nghệ thông tin giai đoạn 2000 - 2010
Chương này làm rõ bước chuyển phát triển mạnh mẽ của CNTT Việt Nam trong thập niên đầu thế kỷ XXI:
- Bối cảnh mới: Hội tụ viễn thông - CNTT, bùng nổ kinh tế tri thức toàn cầu, yêu cầu gia nhập WTO và bảo đảm an ninh mạng.
- Chủ trương bước ngoặt: Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị 58-CT/TW ngày 17/10/2000 về "Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa", xác định CNTT là động lực quan trọng nhất của sự phát triển, là phương thức phát triển rút ngắn.
- Các chỉ đạo thực tiễn:
- Hoàn thiện thể chế: Ban hành Luật Công nghệ thông tin năm 2006, thành lập Bộ Bưu chính, Viễn thông (sau đổi thành Bộ Thông tin và Truyền thông năm 2007).
- Xây dựng hạ tầng và công nghiệp CNTT: Đẩy mạnh công nghiệp phần mềm, công nghiệp phần cứng, nội dung số; hình thành các khu công viên phần mềm tập trung (Công viên phần mềm Quang Trung, Khu CNC Hòa Lạc...).
- Ứng dụng CNTT trong hệ thống chính trị: Triển khai Đề án 112 (tin học hóa quản lý hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2005), Đề án 47 và Đề án 06 (tin học hóa hoạt động các cơ quan Đảng), Chương trình quốc gia về ứng dụng CNTT theo Quyết định 1605/QĐ-TTg.
- Đào tạo nguồn nhân lực: Triển khai các đề án đào tạo nhân lực CNTT chất lượng cao, phổ cập tin học học đường.
Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm
Chương 4 tổng hợp các phân tích định tính và số liệu lịch sử qua hệ thống biểu đồ (doanh thu ngành CNTT, mật độ máy điện thoại, tỷ lệ người dùng Internet giai đoạn 1995 - 2010) để đưa ra các đánh giá:
- Thành tựu nổi bật: Đảng đã từng bước đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế quản lý; mạng lưới viễn thông và Internet tăng trưởng vượt bậc; công nghiệp CNTT hình thành các phân ngành phần mềm, phần cứng, dịch vụ có doanh thu tăng nhanh; ứng dụng CNTT lan tỏa vào quản trị công và đời sống xã hội.
- Hạn chế: Công tác dự báo còn bất cập; một số chủ trương triển khai chậm hoặc thiếu đồng bộ; cơ chế đầu tư tài chính còn dàn trải; việc quản lý các dự án tin học hóa quy mô lớn gặp nhiều vướng mắc (tiêu biểu như hạn chế trong tổ chức thực hiện Đề án 112); công nghiệp phụ trợ CNTT phát triển chưa tương xứng.
- 5 bài học kinh nghiệm được luận án đúc kết:
- Nhận thức đúng vị trí, vai trò của công nghệ thông tin.
- Kiên quyết, kịp thời, tập trung và thống nhất trong hiện thực hóa chủ trương phát triển công nghệ thông tin.
- Hoàn thiện, đổi mới quản lý nhà nước về công nghệ thông tin.
- Chú trọng phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin.
- Huy động sức mạnh của toàn bộ hệ thống đi đôi với tăng cường hợp tác quốc tế trong phát triển công nghệ thông tin.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp khoa học chủ yếu:
- Về mặt khoa học lịch sử: Hệ thống hóa và khôi phục một cách chân thực, khách quan và toàn diện tiến trình ĐCSVN lãnh đạo phát triển CNTT từ năm 1986 đến năm 2010; làm sáng tỏ sự tiến triển trong tư duy lý luận của Đảng từ khái niệm "kỹ thuật tính toán", "điện tử - tin học" đến "công nghệ thông tin", từ quan điểm ứng dụng công cụ đơn thuần sang coi CNTT là lực lượng sản xuất mới và động lực then chốt của CNH, HĐH.
- Về mặt thực tiễn: Cung cấp nguồn tư liệu lịch sử có căn cứ khoa học vững chắc về sự chỉ đạo các đề án, chương trình quốc gia, các quyết sách mở cửa Internet và xây dựng hạ tầng viễn thông; phân tích rõ nguyên nhân thành công và những hạn chế trong tổ chức thực hiện.
- Về mặt giải pháp và chính sách: Đúc kết 5 bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn phục vụ công tác hoạch định đường lối của Đảng và chính sách quản lý nhà nước về CNTT, an toàn thông tin và chuyển đổi số trong giai đoạn tiếp theo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của công trình: Luận án tiếp cận chủ đề dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, do đó tập trung chủ yếu vào chủ trương, đường lối, cơ chế chỉ đạo và tổ chức thực hiện chính trị - xã hội, không đi sâu vào các khía cạnh kỹ thuật công nghệ thuần túy, giải thuật hoặc kiến trúc phần cứng chuyên sâu. Về phạm vi thời gian, công trình dừng lại ở năm 2010 khi kết thúc nhiệm kỳ Đại hội X.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng đối với phát triển CNTT và truyền thông giai đoạn sau năm 2010 đến nay, gắn với các nghị quyết mới về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số quốc gia và an ninh mạng.
- Đi sâu nghiên cứu so sánh lịch sử phát triển CNTT của Việt Nam với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á và châu Á dưới góc độ thể chế lãnh đạo và quản lý phát triển.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Lịch sử Đảng, Lịch sử Việt Nam, Khoa học Chính trị, Quản lý Khoa học và Công nghệ, Quản lý Thông tin.
- Giảng viên đại học sử dụng làm tài liệu giảng dạy chuyên đề về lịch sử kinh tế - xã hội, lịch sử KHCN Việt Nam thời kỳ Đổi mới.
- Cán bộ lãnh đạo, chuyên viên làm công tác tham mưu chính sách, quản lý nhà nước tại các cơ quan Đảng, Bộ Thông tin và Truyền thông, các sở ban ngành địa phương.
- Nội dung đáng tham khảo:
- Hệ thống hóa các văn bản chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về CNTT từ trước năm 1986 đến năm 2010.
- Quy trình ra quyết định lịch sử đối với việc kết nối Internet tại Việt Nam năm 1997.
- Phân tích nguyên nhân thành công và bài học hạn chế trong triển khai các chương trình tin học hóa quốc gia (Đề án 112, Đề án 47, Đề án 06).
Câu hỏi thường gặp
1. Thuật ngữ "Công nghệ thông tin" được Đảng và Nhà nước Việt Nam chính thức sử dụng từ thời điểm nào?
Thuật ngữ này được cố vấn Phạm Văn Đồng dùng trong bài phát biểu ngành bưu điện năm 1987, xuất hiện trong Chỉ thị 95/CT năm 1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, được Chính phủ định nghĩa chính thức tại Nghị quyết 49/CP ngày 04/08/1993, và được Ban Chấp hành Trung ương Đảng chính thức sử dụng thống nhất trong văn kiện Đảng tại Nghị quyết số 07-NQ/HNTW ngày 30/07/1994 (Hội nghị Trung ương 7 khóa VII).
2. Phương châm chỉ đạo của Đảng khi quyết định cho Việt Nam chính thức hòa mạng Internet năm 1997 là gì?
Phương châm chỉ đạo xuyên suốt được nêu tại Thông báo 44-TB/TW, Chỉ thị 14-CT/TW và Công văn 1417-CV/VPTW năm 1997 là: "Mở ra đến đâu bảo vệ chắc đến đó, quản lý chắc được đến đâu thì cấp phép đến đó", không mở rộng ồ ạt, chuẩn bị chu đáo về kỹ thuật, nhân lực và cơ chế kiểm soát, bảo đảm an toàn và giữ gìn bí mật quốc gia.
3. Trước năm 1986, Việt Nam đã có những bước đi ban đầu nào trong việc chế tạo và ứng dụng máy tính điện tử?
Từ năm 1962, Đảng đã cử người đi học máy tính tại Liên Xô; thành lập Phòng Toán học tính toán (1968), Cục Máy tính điện tử (1976), Viện Khoa học Tính toán và Điều khiển (1976). Trong giai đoạn 1977 - 1984, các nhà khoa học trong nước đã chế tạo thành công các máy vi tính FT-1977, FT85, VT81, VT82; đồng thời nhập khẩu 20 máy IBM PC 16-bit vào năm 1981 và thành lập Tổng cục Điện tử và Kỹ thuật tin học vào năm 1983.
4. Luận án đúc kết bao nhiêu bài học kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng đối với phát triển CNTT?
Luận án đúc kết 5 bài học kinh nghiệm chủ yếu: (1) Nhận thức đúng vị trí, vai trò của CNTT; (2) Kiên quyết, kịp thời, tập trung và thống nhất trong hiện thực hóa chủ trương; (3) Hoàn thiện, đổi mới quản lý nhà nước về CNTT; (4) Chú trọng phát triển nguồn nhân lực CNTT; (5) Huy động sức mạnh của toàn bộ hệ thống đi đôi với tăng cường hợp tác quốc tế.
5. Văn kiện nào của Bộ Chính trị được xem là dấu mốc định hướng toàn diện cho CNTT trong thập niên 2000 - 2010?
Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị khóa VIII về "Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa" là văn kiện định hướng toàn diện nhất, xác định CNTT là một trong những động lực quan trọng nhất của sự phát triển và là phương thức phát triển rút ngắn của Việt Nam.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Đỗ Hoàng Ánh là công trình nghiên cứu lịch sử chuyên sâu, phản ánh trung thực và có hệ thống quá trình ĐCSVN nhận thức, hoạch định đường lối và chỉ đạo phát triển CNTT giai đoạn 1986 - 2010. Bằng nguồn tư liệu văn kiện phong phú kết hợp với phương pháp nghiên cứu lịch sử và logic, tác giả đã làm rõ các mốc chuyển biến tư duy then chốt, từ việc tiếp cận máy tính điện tử ban đầu đến chủ trương CNH "không tuần tự", mở cửa Internet và xây dựng công nghiệp CNTT. Các đánh giá khách quan về thành tựu, hạn chế và 5 bài học kinh nghiệm được đúc kết trong luận án mang giá trị khoa học lịch sử và cung cấp luận cứ thực tiễn cho công tác quản lý, phát triển công nghệ thông tin của đất nước.