Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI 1. Khái quát về chi nhánh ngân hàng nước ngoài 1. Khái niệm, đặc điểm của chi nhánh ngân hàng nước ngoài Chi nhánh ngân hàng nước ngoài là khái niệm cần được làm rõ thông qua hai khái niệm hợp thành là “ngân hàng nước ngoài” và “chi nhánh” (ở đây là chi nhánh của pháp nhân). Về khái niệm “ngân hàng”, dường như mỗi quốc gia có cách định nghĩa khác nhau.
Thông thường nhất, người ta định nghĩa ngân hàng thông qua chức năng (những phương diện hoạt động chủ yếu, thể hiện dưới dạng các dịch vụ mà chúng cung cấp trong nền kinh tế). “Theo pháp luật Mỹ, bất kì một tổ chức nào cung cấp một tài khoản tiền gửi, cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu (như bằng cách viết séc hay rút tiền điện tử) và cho vay đối với các tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại, sẽ được xem là một ngân hàng” [70]. Định nghĩa này hoàn toàn dựa trên những chức năng tiêu biểu của ngân hàng là nhận tiền gửi và cấp tín dụng. Một định nghĩa về ngân hàng bao quát hơn có thể tìm thấy tại Điều 1 Luật ngân hàng và hoạt động ngân hàng của Liên Bang Nga năm 1990, theo đó: “Ngân hàng là tổ chức kinh doanh, là một pháp nhân trên cơ sở giấy phép do ngân hàng trung ương Nga cấp, có quyền huy động tiền từ các pháp nhân, cá nhân, và nhân danh mình cho vay số tiền này với điều khoản hoàn trả có lãi, theo thời gian và có thể thực hiện những nghiệp vụ ngân hàng khác”.Rose thì cách tiếp cận thận trọng nhất trong định nghĩa về ngân hàng là dựa trên những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vụ tài chính đa dạng nhất, - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế” [70].
Định nghĩa này được đưa ra trong bối cảnh khó có thể phân biệt giữa các công ty tài chính và ngân hàng trên thị trường tiền tệ và tín dụng ở Mỹ. Theo định nghĩa này, những chức năng cơ bản của ngân hàng đa năng ngày nay là: tín dụng, tiết kiệm, thanh toán, bảo lãnh, môi giới, bảo hiểm, quản lý tiền mặt, ủy thác và đầu tư. Ở Việt Nam, Ngân hàng được coi là một tổ chức tín dụng bên cạnh những tổ chức tín dụng khác, tuy nhiên, ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng duy nhất được thực hiện tất cả mọi hoạt động ngân hàng theo quy định của luật các Tổ chức tín dụng. Luật này cũng liệt kê các loại hình hoạt động ngân hàng: nhận tiền gửi; cấp tín dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Như vậy, pháp luật Việt Nam định nghĩa ngân hàng từ góc độ các loại dịch vụ mà loại hình doanh nghiệp này cung cấp trong nền kinh tế. Ngân hàng chính là một tổ chức có tư cách pháp nhân có khả năng thực hiện đầy đủ các hoạt động ngân hàng luật định. “Ngân hàng nước ngoài” là thuật ngữ chỉ một ngân hàng được thành lập và có tư cách pháp nhân theo pháp luật của một nước khác. Về khái niệm “chi nhánh” (branch of legal person), ở đây được hiểu là chi nhánh của pháp nhân.
Khái niệm này được hiểu khá thống nhất theo pháp luật các quốc gia khác nhau, là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của pháp nhân, kể cả chức năng đại diện theo ủy quyền. Từ ba khái niệm trên, có thể hiểu “chi nhánh của ngân hàng nước ngoài” là thuật ngữ hàm chỉ một đơn vị phụ thuộc của ngân hàng nước ngoài, có nhiệm vụ thực hiện các hoạt động của ngân hàng mẹ như nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản; thực hiện toàn bộ 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoặc một phần chức năng của ngân hàng nước ngoài, và được cấp phép, hoạt động ở một quốc gia khác với quốc gia mà ngân hàng mẹ mang quốc tịch. “Chi nhánh ngân hàng nước ngoài” lần đầu tiên được thừa nhận trong “Pháp lệnh về ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính” của Hội đồng nhà nước năm 1990. Đến năm 1997, “Chi nhánh ngân hàng nước ngoài” lại tiếp tục được thừa nhận trong Luật các tổ chức tín dụng do Quốc hội khoá X ban hành với tư cách là một loại hình tổ chức tín dụng.
Tuy vậy, vị trí pháp lý của chủ thể này trong các văn bản pháp luật lại khác nhau qua từng thời kì, phù hợp với nhu cầu và trình độ phát triển của nền tài chính đất nước. Tại Điều 1 Pháp lệnh về ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính 1990 mới chỉ nhận định “Ngân hàng nước ngoài là ngân hàng được thành lập theo pháp luật nước ngoài, chi nhánh ngân hàng nước ngoài là cơ sở của ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam”, Tới Luật các tổ chức tín dụng 1997 cũng chưa định nghĩa cụ thể thế nào là “chi nhánh ngân hàng nước ngoài” mà chỉ định nghĩa về “Tổ chức tín dụng nước ngoài” như sau: “Tổ chức tín dụng nước ngoài là tổ chức tín dụng được thành lập theo pháp luật nước ngoài” (Điều 20). Khi đó, “Chi nhánh ngân hàng nước ngoài” chưa được điều chỉnh như một chủ thể chính trong luật này mà được coi như một chi nhánh của pháp nhân theo pháp luật Việt Nam. Trong trường hợp đáp ứng nhu cầu cần thiết cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước thì nhà nước mới cho phép mở tại Việt Nam chi nhánh của ngân hàng nước ngoài (Điều 12).
Như vậy, tại thời điểm đó, nhà nước ta khá thận trọng trong việc cho phép sự hiện diện của các tổ chức tín dụng nước ngoài nói chung và chi nhánh của ngân hàng nước ngoài nói riêng. Đến khi ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng vào năm 2004, tại Điều 12 sửa đổi bổ sung về các loại hình tổ chức tín dụng thì định nghĩa “chi nhánh ngân hàng nước ngoài” vẫn chưa được luật hóa. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sau Hiệp định thương mại Việt - Mỹ được kí kết vào năm 2000 và khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) năm 2006, Quốc hội đã ban hành “Luật Các tổ chức tín dụng” mới vào năm 2010 để các quy định pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và ngân hàng phù hợp với cam kết quốc tế. Theo đó, “Chi nhánh ngân hàng nước ngoài” được coi là một chủ thể chính thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật.
Khoản 9 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 đã định nghĩa như sau: “Chi nhánh ngân hàng nước ngoài là đơn vị phụ thuộc của ngân hàng nước ngoài, không có tư cách pháp nhân, được ngân hàng nước ngoài bảo đảm chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ, cam kết của chi nhánh tại Việt Nam” [46]. Trong điều kiện mở cửa, hội nhập trong lĩnh vực ngân hàng, việc đưa chủ thể “Chi nhánh ngân hàng nước ngoài” trở thành chủ thể chính được điều chỉnh bởi luật các tổ chức tín dụng là một tất yếu khách quan, cần thiết và hợp lý. Trong luận văn này, với mục đích nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt nam, “Chi nhánh ngân hàng nước ngoài” được hiểu theo quy định tại Luật các tổ chức tín dụng 2010. Chi nhánh ngân hàng nước ngoài có khả năng thực hiện các hoạt động ngân hàng, nhưng lại là chi nhánh, do đó, chi nhánh ngân hàng nước ngoài mang những đặc điểm của loại hình ngân hàng nói chung và mang những đặc điểm riêng giúp phân biệt với các loại hình ngân hàng khác.
Về đặc điểm chung: Với tư cách là một loại hình ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có những đặc điểm chung sau đây: Thứ nhất, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có đối tượng kinh doanh trực tiếp là tiền tệ, có hoạt động kinh doanh chính, thường xuyên và mang tính nghề nghiệp là hoạt động ngân hàng. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đặc điểm này có ý nghĩa quyết định đến cơ chế điều chỉnh của pháp luật đối với việc tổ chức và hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài bởi lẽ tổ chức tín dụng có tác động to lớn đến nền kinh tế với những hoạt động mang tính rủi ro cao. Đối với khái niệm hoạt động ngân hàng thì có thể thấy đó là các hoạt động điển hình là nhận tiền gửi của các cá nhân và các tổ chức, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán. Ngày nay, các hoạt động của ngân hàng có nhiều nghiệp vụ đa dạng, như nghiệp vụ chiết khấu (mua lại hối phiếu và séc), nghiệp vụ chứng khoán (thu nhận và trích giao chứng khoán phục vụ khách hàng), nghiệp vụ lưu ký (lưu giữ và điều hành chứng khoán phục vụ khách hàng), nghiệp vụ đầu tư, cam kết mua lại những khoản có phải đòi của các khoản tín dụng dài hạn trước khi tới hạn thu hồi vốn, nghiệp vụ bảo đảm (nhận bảo lãnh, bảo đảm và hoạt động bảo đảm khác), nghiệp vụ thanh toán (thực hiện hoạt động thanh toán bù trừ và thanh toán không dùng tiền mặt)… [38] Cụ thể hơn, tuỳ thuộc vào phạm vi giấy phép được cấp thì chi nhánh ngân hàng nước ngoài có thể được cung ứng các loại dịch vụ truyền thống sau đây: - Thực hiện trao đổi ngoại tệ: đây là một trong những loại dịch vụ ngân hàng đầu tiên.
Sự trao đổi này rất quan trọng đối với du khách vì họ cần phải sử dụng đồng tiền bản xứ nơi du lịch một cách thường xuyên. Ngày nay, việc mua bán ngoại tệ cần nhiều tính kĩ thuật hơn, do đó nó phụ thuộc vào chính sách từng quốc gia, không phải bất cứ ngân hàng nào cũng được thực hiện dịch vụ này, và đề thực hiện thì cũng cần rất nhiều quy định chặt chẽ của pháp luật. - Chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại: bản chất của chiết khấu thương phiếu là cho vay đối với doanh nhân – những người bán các khoản nợ phải thu của khách hàng cho ngân hàng để lấy tiền mặt. Đây là bước chuyển tiếp từ chiết khấu thương phiếu sang cho vay trực tiếp với khách hàng và hiện nay hoạt động cho vay đã trở thành nghiệp vụ ngân hàng phổ biến nhất.