Phần mở đầu, 3 chương, kết luận, tài liệu tham khảo. Chƣơng 1: Khái quát chung về hợp đồng tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng tín dụng ngân hàng 1. Phân loại hợp đồng tín dụng ngân hàng 1.
Bản chất pháp lý của hợp đồng tín dụng ngân hàng 1. Trình tự, thủ tục giao kết hợp đồng tín dụng ngân hàng Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật về hợp đồng tín dụng ngân hàng ở Việt Nam. Nội dung cơ bản của hợp đồng tín dụng ngân hàng 2. Hình thức của hợp đồng tín dụng ngân hàng 2.
Chủ thể của hợp đồng tín dụng ngân hàng 2. Quyền và nghiã vụ của các bên chủ thể 2. Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản 2. Sự vô hiệu của hợp đồng tín dụng ngân hàng 2.
Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng ngân hàng Chƣơng 3: Những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về hợp đồng tín dụng ngân hàng ở Việt Nam. Cơ sở hoàn thiện pháp luật về hợp đồng tín dụng ngân hàng 3. Những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về hợp đồng tín dụng ở Việt Nam. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I.
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 1. Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng tín dụng ngân hàng 1.1 Khái niệm hợp đồng tín dụng ngân hàng. Trong xã hội loài người từ khi xuất hiện nền sản xuất hàng hoá thì nhu cầu về vốn của các chủ thể là nhu cầu mang tính khách quan. Tuy nhiên, xét tại cùng một thời điểm thì có những ngời thừa vốn tạm thời lại có những ngời thiếu vốn tạm thời.
Nếu không có sự luân chuyển vốn từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn thì nền sản xuất sẽ bị ngng trệ. Để giải quyết mâu thuẫn nội tại giữa ngời thừa vốn và ngời thiếu vốn tạm thời tín dụng đã ra đời. Thực chất tín dụng là sự vay mợn vốn lẫn nhau giữa các chủ thể dựa trên cơ sở tín nhiệm. Hình thức tín dụng đầu tiên xuất hiện trong lịch sử là tín dụng nặng lãi.
Cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá tiền tệ, tín dụng cũng không ngừng phát triển. Dần dần trong xã hội xuất hiện một tổ chức trung gian có nhiệm vụ huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội và dùng vốn đó cho các chủ thể khác vay. Đó chính là các tổ chức tín dụng. Ngay từ khi ra đời, tín dụng ngân hàng đã đóng một vai trò hết sức quan trọng trong nền sản xuất hàng hoá.
Nó trở thành động lực to lớn thúc đẩy nền sản xuất hàng hoá phát triển. Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền sản xuất, hoạt động tín dụng ngân hàng ngày càng trở nên quan trọng hơn với vai trò là công cụ để điều hoà vốn đáp ứng phần lớn nhu cầu sử dụng vốn vào mục đích sản xuất kinh doanh cũng nh tiêu dùng trong xã hội. Trong tình hình nớc ta hiện nay, với đờng lối phát triển nền kinh 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tế thị trờng theo định hớng XHCN dới sự quản lý của Nhà nớc, tín dụng ngân hàng đợc sử dụng nh một đòn bẩy, một động lực to lớn trong việc phát triển nền kinh tế quốc dân. Có thể nói, quan hệ tín dụng ngân hàng thực chất là quan hệ vay mợn vốn phát sinh giữa các tổ chức tín dụng với các tổ chức, cá nhân.
Hình thức pháp lý của quan hệ này chính là hợp đồng tín dụng ngân hàng. Mặc dù giữ một vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế và các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng ngân hàng diễn ra ngày một nhiều và gây thiệt hại không nhỏ cho các chủ thể, song, cho đến nay vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào của nước ta đa ra một khái niệm chính thức về hợp đồng tín dụng ngân hàng mà chỉ liệt kê những nội dung chủ yếu của hợp đồng tín dụng ngân hàng như: “Việc cho vay phải được lập thành hợp đồng tín dụng. Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng tiền vay, hình thức vay, số tiền vay, lãi suất, thời hạn vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thoả thuận” (Điều 51 Luật các tổ chức tín dụng). Về vấn đề này, Luật ngân hàng Ba Lan năm 1989 có định nghĩa về hợp đồng tín dụng ngân hàng như sau: “Một hiệp định tín dụng giàng buộc ngân hàng giành một khoản tiền sẵn có xác định cho người vay trong thời hạn đã được thoả thuận theo hiệp định, và người cho vay cam kết sử dụng khoản tín dụng đó, hoàn trả số lượng tín dụng đã được sử dụng cùng với số lãi cộng dồn trong phạm vi ngày hoàn trả đã thoả thuận và hoàn trả một số phí hoa hồng cho việc phát hành đó”(Điều 27).
Ở Việt Nam, khái niệm hợp đồng tín dụng ngân hàng mới chỉ dừng lại ở trong các cuốn sách giáo trình của các cơ sở nghiên cứu luật. Theo đó, có nhiều quan điểm khác nhau về hợp đồng tín dụng ngân hàng như: “Hợp đồng tín dụng là sự thoả thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) với tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện do Luật định (bên vay), theo đó tổ chức tín dụng thoả thuận ứng trước một số tiền cho bên vay sử dụng 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả cả gốc lẫn lãi, dựa trên sự tín nhiệm”. Tuy cách diễn đạt có sự khác nhau nhng cả hai cách định nghĩa trên về cơ bản đều thống nhất về nội dung. Ở đây, chúng ta cần hiểu trớc hết hợp đồng tín dụng là một loại hợp đồng, vì vậy, phải có sự thoả thuận, thống nhất ý chí giữa các bên chủ thể trong hợp đồng.
Hơn nữa, đây là hình thức pháp lý của quan hệ cho vay giữa tổ chức tín dụng và khách hàng; mà theo Quy chế cho vay kèm theo Quyết định 1627 của Thống đốc ngân hàng Nhà nớc Việt Nam ngày 31/12/2001 (gọi tắt là Quy chế cho vay) thì: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó, tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc lẫn lãi.” Khác với quan hệ cho vay thông thờng, quan hệ cho vay giữa tổ chức tín dụng và khách hàng tiềm ẩn độ rủi ro cao nên hợp đồng tín dụng ngân hàng phải có những điều kiện chặt chẽ về chủ thể, hình thức hợp đồng, thời hạn, mục đích sử dụng tiền vay và luôn có lãi suất. Từ các phân tích trên, theo tác giả, hợp đồng tín dụng ngân hàng có thể định nghĩa nh sau: Hợp đồng tín dụng ngân hàng là sự thoả thuận bằng văn bản giữa một bên là tổ chức tín dụng (bên cho vay) với bên kia là tổ chức, cá nhân thoả mãn điều kiện luật định (bên đi vay), theo đó bên cho vay cấp cho bên đi vay một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và trong thời hạn đã thoả thuận, hết thời hạn đó bên đi vay phải hoàn trả cả gốc và lãi. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Để tìm hiểu rõ hơn về hợp đồng tín dụng ngân hàng, chúng ta tìm hiểu thông qua các đặc điểm của hợp đồng này. Đặc điểm của hợp đồng tín dụng ngân hàng: So với các hợp đồng khác, hợp đồng tín dụng ngân hàng có một số đặc thù riêng.
Đó là: - Về chủ thể: Khác với các hợp đồng thông thờng chủ thể là các tổ chức, cá nhân có năng lực pháp luật và năng lực hành vi, trong hợp đồng tín dụng ngân hàng thì một bên chủ thể bắt buộc phải là tổ chức tín dụng đợc thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật với t cách là bên cho vay; còn bên vay là các tổ chức, cá nhân thoả mãn các điều kiện vay vốn. Ngoài ra, một số tổ chức khác cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng tín dụng ngân hàng với t cách là bên cho vay nếu đợc Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam cấp giấy phép hoạt động ngân hàng. Sự quy định chặt chẽ về điều kiện chủ thể của hợp đồng tín dụng ngân nhằm đảm bảo sự an toàn về tài sản cho các chủ thể trong quan hệ hợp đồng cũng nh lợi ích chung cho toàn xã hội. - Về đối tượng của hợp đồng tín dụng ngân hàng: luôn luôn là tiền (tiền mặt hoặc bút tệ).
Đây chính là điểm khác biệt của hợp đồng tín dụng so với các hợp đồng khác. Ở các hợp đồng khác, đối tợng hợp đồng rất đa dạng có thể là hàng hoá, dịch vụ nói chung còn đối tợng của hợp đồng tín dụng ngân hàng luôn luôn là tiền. Các bên thoả thuận chuyển giao cho nhau một số tiền dùng trong một khoảng thời gian nhất định. - Hợp đồng tín dụng có độ rủi ro cao: Điều này xuất phát từ đặc thù của hợp đồng tín dụng.
Theo đó bên cho vay chỉ có thể nhận lại đợc số tiền đã cho vay cùng lãi suất sau một khoảng thời gian nhất định. Thời gian càng dài thì rủi ro càng lớn. Tính rủi ro của hợp đồng tín dụng còn được thể hiện ở chỗ rủi ro của hợp đồng tín dụng có tính dây chuyền. Việc không thu hồi vốn vay của tổ chức tín dụng không chỉ ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của tổ chức tín dụng mà còn ảnh hưởng đến lợi ích người gửi tiền.
Bởi lẽ, khác với các hợp đồng cho vay thông thờng, bên cho vay dùng tiền thuộc sở hữu của mình để cho vay thì trong hợp đồng tín dụng các tổ chức tín dụng chủ yếu dùng tiền từ nguồn vốn huy động từ các tổ chức, cá nhân. Do đó, nếu khoản 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho vay không thu hồi đợc vốn, tổ chức tín dụng sẽ có nguy cơ mất khả năng chi trả cho ngời gửi tiền, đe dọa đến sự sống còn của tổ chức tín dụng, tác động dây chuyền đến toàn bộ nền kinh tế. - Hình thức của hợp đồng tín dụng luôn bằng văn bản. Xuất phát từ tính rủi ro cao của hợp đồng tín dụng và tầm quan trọng của hợp đồng tín dụng, Luật ngân hàng của hầu hết các nớc trên thế giới đều quy định hợp đồng tín dụng phải đợc ký kết bằng văn bản, như Điều 37 Luật ngân hàng thương mại Trung Quốc, Điều 27.1 Luật ngân hàng Ba Lan.