CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về hiệu quả hoạt động là một vấn đề được các nhà kinh tế và quản lý kinh tế rất quan tâm. Mọi hoạt động kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng đều hướng tới mục tiêu hiệu quả. Các doanh nghiệp đều có mục đích chung là làm thế nào để một đồng vốn bỏ vào kinh doanh mang lại hiệu quả cao nhất, khả năng sinh lời nhiều nhất.
Vậy hiệu quả kinh doanh là gì? Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được xem xét trong mối quan hệ của 2 yếu tố: Đầu vào và đầu ra. Đầu ra là kết quả của doanh nghiệp (doanh thu, lợi nhuận, giá trị sản xuất, giá trị tăng thêm …) và đầu vào là các nguồn lực sử dụng như: Vốn, nguồn nhân lực, các loại tài sản… [15, tr 90] Tóm lại: Hiệu quả phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực đầu vào để đạt được kết quả đầu ra cao nhất với chi phí nguồn lực đầu vào thấp nhất.nam download by : skknchat@gmail.nam 9 Để đánh giá hiệu quả hoạt động, ta có công thức chung: Kết quả đầu ra Hiệu quả hoạt động = Các yếu tố đầu vào 1. Khái niệm và ý nghĩa phân tích hiệu quả hoạt động a. Khái niệm phân tích hiệu quả hoạt động Phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là việc đánh giá khả năng đạt được kết quả, khả năng sinh lãi của doanh nghiệp [15, tr89], nhằm làm rõ chất lượng hoạt động kinh doanh và các nguồn tiềm năng cần khai thác, trên cở sở đó đề ra các phương án và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động ở doanh nghiệp.
Phân tích hiệu quả hoạt động là đi sâu nghiên cứu nội dung, kết cấu và mối quan hệ qua lại giữa các số liệu biểu hiện hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bằng những phương pháp khoa học nhằm thấy được chất lượng hoạt động, nguồn năng lực sản xuất tiềm tàng trên cơ sở đó đề ra những phương án mới và biện pháp khai thác có hiệu quả. Bởi vì mục đích cuối cùng của người chủ sở hữu, của nhà quản trị là bảo đảm sự giàu có, sự tăng trưởng tài sản của doanh nghiệp; để thực hiện tốt nhiệm vụ này, doanh nghiệp phải sử dụng và phát triển tiềm năng kinh tế của mình. Nếu không đảm bảo được khả năng sinh lãi thì lợi nhuận tương lai sẽ không chắc chắn, giá trị doanh nghiệp sẽ bị giảm, người chủ có nguy cơ bị mất vốn [15, tr 89] Phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được đặc trưng bởi việc xem xét hiệu quả sử dụng toàn bộ các phương tiện kinh doanh trong quá trình sản xuất, tiêu thụ cũng như các chính sách tài trợ. Quá trình phân tích này thường cung cấp cho người lãnh đạo, nhà quản trị các chỉ tiêu để làm rõ: hiệu (luan.nam download by : skknchat@gmail.nam 10 quả của đơn vị đạt được là do tác động của quá trình kinh doanh hay do tác động của chính sách tài chính.
Ý nghĩa của phân tích hiệu quả hoạt động Là công cụ phát hiện những khả năng tiềm tàng trong hoạt động kinh doanh, cải tiến cơ chế quản lý trong kinh doanh và phòng ngừa rủi ro. Cho phép các nhà doanh nghiệp nhìn nhận đúng đắn về khả năng, sức mạnh cũng như những hạn chế trong doanh nghiệp của mình. Trên cơ sở này các doanh nghiệp sẽ xác định đúng mục tiêu cùng các chiến lược kinh doanh có hiệu quả. Phân tích hiệu quả hoạt động không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với bản thân doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa đối với những ai quan tâm đến doanh nghiệp đặc biệt là nhà đầu tư, ngân hàng, nhà cung cấp.Vì phân tích hiệu quả hoạt động sẽ giúp cho họ có những thông tin để có những quyết định được đúng đắn.
Đồng thời phân tích hiệu quả hoạt động sẽ cung cấp thông tin để đánh giá giá trị doanh nghiệp. Chất lượng phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào thông tin sử dụng.Thông tin dùng để phân tích phải chính xác, đầy đủ, k trong (luan.nam download by : skknchat@gmail. + Về mặt kinh tế: Số liệu phần tài sản cho phép đánh giá một cách tổng quát về quy mô, kết cấu tài sản của doanh nghiệp, từ đó cho phép đánh giá một cách tổng quát tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp. Số liệu của phần nguồn vốn thể hiện cơ cấu nguồn vốn được đầu tư và huy động vào sản xuất kinh doanh.
Qua đó có thể đánh giá một cách khái quát khả năng và mức độ chủ động về tài chính của doanh nghiệp. + Về mặt pháp lý: Số liệu phần tài sản thể hiện giá trị các loại tài sản mà doanh nghiệp có quyền quản lý và sử dụng lâu dài để sinh lời. Còn phần nguồn vốn phản ánh phạm vi trách nhiệm và nghĩa vụ của doanh nghiệp về tổng số vốn kinh doanh với chủ nợ và chủ sở hữu. - doanh cho biết được thông tin tổng hợp về tình hình và kết quả sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật và trình độ quản lý sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp vay, hay kiểm tra tình hình thực hiện trách triệm, nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước về các khoản thuế và các khoản phải nộp khác.nam download by : skknchat@gmail.nam 12 - là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp.
Nó cung cấp thông tin về những dòng tiền vào, ra của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định, để đáp ứng kịp thời các khoản nợ cho các chủ nợ, chia cổ tức cho cổ đông hoặc nộp thuế cho Nhà nước. Ngoài ra, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là cơ sở để dự đoán các dòng tiền ra vào trong tương lai, giúp nhà quản trị trong công tác hoạch định và kiểm soát các hoạt động của doanh nghiệp, đồng thời có thể đánh giá thời cơ kinh doanh để ra các quyết định kịp thời, thiết lập mức ngân quỹ dự phòng tối thiểu cho doanh nghiệp nhằm đảm bảo khả năng chi trả. - - : + Phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp không thể chỉ giới hạn trong phạm vi nghiên cứu các báo cáo tài chính mà phải mở rộng sang các báo cáo khác như: Bảng chi tiết lãi lỗ tiêu thụ về sản xuất, tình hình tăng giảm tài sản cố định và các tài liệu khác về giá trị sản xuất và số lượng sản phẩm tiêu thụ.nam download by : skknchat@gmail.nam download by : skknchat@gmail. Đây là phương pháp phổ biến trong phân tích để đánh giá kết quả, xác định vị trí và xu hướng biến động của các chỉ tiêu phân tích.
Khi thực hiện ph những vấn đề cơ bản như xác định tiêu chuẩn so sánh, điều kiện so sánh, kỹ thuật so sánh. Tiêu chuẩn so sánh Tiêu chuẩn so sánh là chỉ tiêu gốc được chọn làm căn cứ để so sánh. Chỉ tiêu gốc còn gọi là số gốc. Mỗi loại chỉ tiêu gốc - Số gốc là số kỳ trước: Tiêu chuẩn so sánh này có tác dụng đánh giá mức độ biến động, xu hướng của chỉ tiêu phân tích qua hai hay nhiều kỳ.
- Số gốc là số kế hoạch (Định mức hoặc dự toán): Tiêu chuẩn so sánh này có tác dụng đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu đã đặt ra. - Số gốc là số trung bình ngành: Tiêu chuẩn so sánh này thường sử dụng khi đánh giá kết quả của doanh nghiệp so với trung bình tiên tiến của doanh nghiệp có cùng quy mô trong ngành. Điều kiện so sánh - Phải phản ánh cùng nội dung kinh tế, thông thường nội dung kinh tế của chỉ tiêu có tính ổn định và thường được quy định thống nhất. Tuy nhiên, nội dung kinh tế của chỉ tiêu có thể thay đổi trong trường hợp chế độ, chính sách tài chính - kế toán của Nhà nước thay đổi, do thay đổi phân cấp quản lý tài chính trong doanh nghiệp.
Trường hợp có sự thay đổi của nội dung kinh tế, để đảm bảo tính so sánh được, trị số gốc của chỉ tiêu cần so sánh cần phải được tính toán lại theo nội dung quy định mới. - Phải có cùng phương pháp tính toán: Trong kinh doanh các chỉ tiêu có thể được tính theo các phương pháp khác nhau, điều này là do sự thay đổi phương pháp hạch toán tại đơn vị, sự thay đổi chế độ tài chính kế toán của Nhà (luan.nam download by : skknchat@gmail.nam 15 nước hay sự khác biệt về chuẩn mực kế toán giữa các nước. Do vậy, khi phân tích các chỉ tiêu của doanh nghiệp theo thời gian phải loại trừ các tác động do thay đổi về phương pháp kế toán, hay khi phân tích một chỉ tiêu giữa các doanh nghiệp với nhau phải xem đến chỉ tiêu đó được tính toán trên cơ sở nào. Kỹ thuật so sánh - So sánh bằng số tuyệt đối: Là hiệu số giữa trị số kỳ phân tích và trị số kỳ gốc của chỉ tiêu kinh tế.
Việc so sánh này cho thấy biến động về quy mô, khối lượng của chỉ tiêu phân tích. - So sánh bằng số tương đối: Là thương số giữa trị số kỳ phân tích và trị số kỳ gốc của chỉ tiêu kinh tế. Việc so sánh này biểu hiện kết cấu, mối quan hệ, tốc độ phát triển…của chỉ tiêu phân tích. - So sánh bằng số bình quân: Phản ánh nội dung chung nhất của hiện tượng bỏ qua sự phát triển không đồng đều của các bộ phận cấu thành hiện tượng đó, hay nói khác hơn, số bình quân đã san bằng mọi chênh lệch về trị số của chỉ tiêu.
Số bình quân có thể biểu hiện dưới dạng số tuyệt đối hoặc dưới dạng số tương đối. So sánh bằng số bình quân nhằm phản ánh đặc điểm chung của một đơn vị, một bộ phận hay một tổng thể chung có một tính chất. L phương pháp được sử dụng để xác định xu hướng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích khi loại trừ ảnh hưởng của các nhân tố còn lại. Phương pháp loại trừ được thể hiện thông qua các phương pháp sau: (luan.nam download by : skknchat@gmail.
Phương pháp này được sử dụng để xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích khi các nhân tố này có quan hệ tích số, thương số, hoặc vừa thương số vừa tích số với chỉ tiêu phân tích. Giả sử ta có phương trình kinh tế: X = a.c Trong đó: X: Chỉ tiêu kinh tế cần phân tích a, b, c: Các nhân tố ảnh hưởng - Kỳ gốc: X0 = a0.c0 - Kỳ phân tích: X1 = a1.