Chương 1: Cơ sở lý luận về đánh giá kết quả thực hiện công việc. - Chương 2: Thực trạng công tác đánh giá kết quả thực hiện công việc của người lao động tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh. - Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác đánh giá kết quả thực hiện công việc của người lao động tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh. - Tài liệu tham khảo.
123doc 5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÔNG VIỆC 1. Một số khái niệm: 1. Đánh giá: Đánh giá là quá trình so sánh, đối chiếu thực tế với những tiêu chuẩn đã định sẵn để rút ra mức độ phù hợp của các bộ phận, các mối liên kết bên trong sự vật với những chuẩn mực, quy định của nó 1. Đánh giá kết quả thực hiện công việc: Đánh giá kết quả thực hiện công việc là sự đánh giá có hệ thống và chính thức tình hình thực hiện công việc của người lao động trong quan hệ so sánh với các tiêu chuẩn đã được xây dựng và thảo luận về sự đánh giá đó với người lao động 2.
Theo đó, đánh giá kết quả thực hiện công việc được tiến hành trên cơ sở xác lập một quy trình mang tính hệ thống, trong đó những tiêu chí đánh giá được thiết lập cụ thể, rõ ràng và được công khai, minh bạch đến người lao động với những yêu cầu riêng biệt đối với từng vị trí chức danh; kết quả thực hiện công việc của người lao động được đánh giá trong một khoảng thời gian xác định trước (thường là hàng quý, 6 tháng hoặc một năm) thông qua những phương pháp đánh giá đã được thiết kế một cách có lựa chọn, phụ thuộc vào mục đích của cuộc đánh giá. Việc trao đổi, thảo luận, phản hồi kết quả đánh giá cho người lao động là hoạt động tương tác mang tính tích cực, giúp người lao động nhận biết mức độ thực hiện công việc của mình nhằm cải tiến phương pháp, tăng cường hiệu quả làm việc trong tương lai. Ngoài ra, nếu quá trình tương tác, phản hồi hai chiều giữa nhà quản lý và người lao động hiệu quả còn có tác dụng gắn kết người lao động với tổ chức thông qua việc tăng cường sự hiểu biết của người lao động về tổ chức và định hướng cơ hội nghề nghiệp tương lai. 1 Trần Xuân Cầu, 2002.
Phân tích lao động xã hội. Hà Nội: NXB Lao động - Xã hội, trang 7. 2 Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân, 2007. Quản trị nhân lực.
Hà Nội: NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, trang 134. Cán bộ, công chức: Cán bộ: là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước3. Công chức: là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện3. Ủy ban nhân dân: UBND là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên.
UBND chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp nhằm bảo đảm thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn. UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, góp phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương tới cơ sở 4. Cơ quan chuyên môn: Cơ quan chuyên môn4 thuộc UBND là cơ quan có thẩm quyền chuyên môn với vị trí, tính chất tham mưu, giúp UBND cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực hoặc một số ngành, một số lĩnh vực ở địa phương; có cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ quyền hạn và hoạt động theo quy định của pháp luật nhằm giải quyết các công việc của công dân, tổ chức trong phạm vi thực hiện nhiệm vụ chấp hành, điều hành (chỉ đạo, điều hành) của cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp, bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ trung ương đến địa phương, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả và thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước của UBND cùng cấp ở địa phương. 3 Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, 2008.
Luật cán bộ, công chức số 22/2008/ QH12. Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia. 4 Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, 2003. Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân số 11/2003/QH11.
Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia. 123doc 7 Cơ quan chuyên môn thuộc UBND các cấp thực hiện chức năng tham mưu, tư vấn và giúp UBND, Chủ tịch UBND cùng cấp trong việc xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, ban hành quyết định hành chính, hoạch định chính sách, tổ chức thực hiện pháp luật về ngành, lĩnh vực trong phạm vi thẩm quyền quản lý nhà nước của UBND ở địa phương nhằm bảo đảm các văn bản pháp luật của nhà nước được thực hiện thống nhất, có hiệu quả từ trung ương đến cơ sở. Mục đích, ý nghĩa của công tác đánh giá kết quả thực hiện công việc 1. Mục đích: - Cải tiến kết quả thực hiện công việc của người lao động: Thông qua việc cung cấp thông tin phản hồi, nhân viên nhận biết được mức độ thực hiện công việc của bản thân trên cơ sở so sánh, đối chiếu với các tiêu chuẩn đã được xác lập hoặc so sánh với các nhân viên khác ở cùng vị trí công việc; từ đó có ý thức điều chỉnh, sửa chữa những sai lầm, thay đổi cách thức thực hiện công việc nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn vị trí đang đảm nhiệm, tăng cường tính hiệu quả của công việc.
- Đánh giá năng lực tiềm tàng và khả năng thăng tiến của nhân viên để kích thích, động viên nhân viên tích cực sáng tạo, nâng cao nhận thức cho nhân viên về tinh thần trách nhiệm, thúc đẩy nhân viên ngày càng nỗ lực làm việc. - Tăng cường sự trao đổi thông tin giữa người lao động và nhà quản lý cấp trên: Sự tương tác, phản hồi thông tin trong quá trình đánh giá sẽ giúp nhà quản lý hiểu rõ nhân viên, ngược lại nhân viên sẽ có cơ hội trao đổi với nhà quản lý, nhận thức được bản thân, dễ dàng chấp nhận kết quả đánh giá để không ngừng nỗ lực rèn luyện, phấn đấu và cống hiến cho tổ chức. - Giúp nhà quản lý xác định nhu cầu đào tạo và phát triển nhân viên: Đánh giá kết quả thực hiện công việc là cơ sở để tổ chức xây dựng các chương trình đào tạo hiệu quả, phù hợp với khả năng chuyên môn, sở trường, triển vọng nghề nghiệp … của nhân viên, nhằm mục đích phát huy tối đa những ưu điểm, hạn chế đến mức thấp nhất những khuyết điểm của nhân viên. - Là cơ sở để tổ chức thiết lập chính sách lương bổng, đãi ngộ (thăng tiến, khen thưởng, kỷ luật…) hợp lý, công bằng, xứng đáng với công sức lao động và mức 123doc 8 độ cống hiến của nhân viên; là cơ sở quan trọng trong việc tạo động lực làm việc cho nhân viên, tăng cường mối quan hệ gắn kết trong nội bộ và giữ người tài cho tổ chức.
- Ngoài ra, thông tin phản hồi của nhân viên trong hoạt động đánh giá kết quả thực hiện là cơ sở để tổ chức kiểm tra lại chất lượng của các hoạt động chức năng về nguồn nhân lực khác như: tuyển chọn, đào tạo, định hướng, thăng tiến, trả công, khen thưởng… để đưa ra các phương pháp điều chỉnh phù hợp. Ý nghĩa: Mối quan hệ giữa đánh giá kết quả thực hiện công việc trong các nhóm chức năng nguồn nhân lực được thể hiện trong hình 2. Đánh giá kết quả thực hiện công việc là một công cụ trong nhóm chức năng duy trì nguồn nhân lực, có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại với hai nhóm chức năng khác là nhóm chức năng thu hút nguồn nhân lực và nhóm chức năng đào tạo – phát triển, phục vụ mục tiêu quản trị nguồn nhân lực trong tổ chức. Trong đó, đánh giá kết quả thực hiện công việc là cơ chế kiểm soát mang thông tin phản hồi tác động đến cả cá nhân lẫn tổ chức, cụ thể: - Đối với người được đánh giá: nhận biết kết quả thực hiện công việc của bản thân, phát huy ưu điểm, cải thiện và sửa chữa những khuyết điểm; có cơ hội trao đổi với nhà quản lý về những khó khăn, vướng mắc trong công việc hoặc trình bày những sáng kiến giúp cải thiện môi trường làm việc, tăng cường hiệu quả trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; ý thức tự đào tạo, rèn luyện hoặc tham gia các lớp đào tạo do nội bộ tổ chức để trau dồi kiến thức chuyên môn và các kỹ năng cần thiết cho vị trí đang đảm nhiệm.
góp phần tác động đến việc xây dựng, phát triển đạo đức, thái độ làm việc của người lao động và bầu không khí tâm lý – xã hội trong tổ chức. - Đối với nhà quản lý: Có cách nhìn bao quát về năng lực, khả năng tiềm tàng, tâm lý và sự mong đợi của nhân viên do mình quản lý. Từ đó, nhà quản lý đưa ra được những quyết định nhân sự đúng đắn như: đào tạo, nâng lương, khen thưởng, đề bạt thăng chức, thuyên chuyển hay thậm chí là kỷ luật, cho thôi việc. Đánh giá khách quan, đúng mức độ cống hiến của nhân viên là việc không đơn giản, dễ dàng; tiêu chí đánh giá chung chung, không cụ thể, cách thức đánh giá bình quân chủ nghĩa hay phong cách làm việc độc đoán, quan liêu của nhà quản lý.
sẽ dẫn đến những quyết định nhân sự sai lầm, khiến nhân viên bất mãn, tạo ra không khí làm việc nặng nề, đối phó và nghiêm trọng hơn là tình trạng đánh mất người tài trong tổ chức. Các yếu tố thành phần chức năng. (Nguồn: Trần Kim Dung, 2011. Quản trị nguồn nhân lực.
Hồ Chí Minh: NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, trang 18).