Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về môi trường thu hút FDI. - Chương II: Thực trạng môi trường thu hút FDI tại Bình Dương. - Chương III: Phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục hoàn thiện môi trường thu hút FDI trên địa bàn tỉnh Bình Dương. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 1 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ MÔI TRƢỜNG THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI 1.
Đầu tƣ và đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 1. Khái niệm về đầu tư Vũ Chí Lộc (1997) cho rằng hoạt động đầu tư là quá trình huy động và sử dụng mọi nguồn vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh nhằm sản xuất sản phẩm hay cung cấp dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và xã hội. Theo giáo trình Kinh tế đầu tư thì: đầu tư là sự bỏ ra, sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại. Nguồn lực này có thể là tiền, sức lao động, trí tuệ… nhằm đạt được những kết quả có lợi cho người đầu tư trong tương lai.Vốn đầu tư là toàn bộ những chi tiêu để làm tăng hoặc duy trì tài sản vật chất trong một thời kỳ nhất định.Vốn đầu tư thường thực hiện qua các dự án đầu tư và một số chương trình mục tiêu quốc gia với mục đích chủ yếu là bổ sung tài sản cố định và tài sản lưu động (PGS.TS Nguyễn Bạch Nguyệt & TS.
Từ Quang Phương, 2007). Các khái niệm trên đây cho thấy đầu tư là hoạt động nhằm sinh lời khi đầu tư vốn kinh doanh trong mội thời kỳ nhất định. Phân loại đầu tư Hoạt động đầu tư có thể được phân loại một cách tương đối: theo lĩnh vực hoạt động, theo mức độ đầu tư, theo thời gian hoạt động và theo tính chất quản lý (Nguyễn Thị Huyền Trang, 2013). * Theo lĩnh vực hoạt động, bao gồm: - Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật (điện, nước, giao thông vận tải, thông tin liên lạc…): đây là điều kiện để tạo tiền đề phát triển sản xuất kinh doanh (tạo ra sự ra đời các xí nghiệp mới, quy mô sản xuất được mở rộng) - Đầu tư phát triển sản xuất – kinh doanh (đầu tư thêm dây chuyền công nghệ để tăng cường năng lực sản xuất, đầu tư bổ sung trang thiết bị hiện đại…): sẽ tạo năng lực mới, sản xuất phát triển có thêm tiềm lực kinh tế để giúp phát triển trở lại cho cơ sở hạ tầng.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 - Đầu tư phát triển các hoạt động lĩnh vực văn hóa – xã hội – môi trường (đầu tư các dự án trùng tu các di sản văn hóa, lịch sử…). Đầu tư vào văn hóa xã hội sẽ nâng cao học vấn, dân trí, phát triển khoa học kỹ thuật giúp phát triển trở lại cho sản xuất. * Phân loại theo mức độ đầu tư, bao gồm: - Đầu tư cải tạo mở rộng: nhằm tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cao hơn trên cơ sở đầu tư cũ đã có (như mở rộng thêm mặt bằng mua sắm bổ sung thêm máy móc thiết bị, cải tiến dây chuyền công nghệ…). Kết quả của đầu tư này là nhằm nâng cao thêm năng lực và hiệu quả sản xuất.
Trường hợp này còn gọi là đầu tư chiều sâu. - Đầu tư xây dựng mới: được tiến hành với quy mô lớn, toàn diện. Trong đó việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới được quan tâm và sử dụng tối đa. So sánh 2 dạng đầu tư này: đầu tư xây dựng mới lớn hơn về quy mô, dài hơn về thời gian thực hiện; kỹ thuật công nghệ mới được sử dụng triệt để và vốn đầu tư thường rất lớn.
* Phân loại theo thời hạn hoạt động, bao gồm: - Đầu tư ngắn hạn: là những đầu tư nhằm vào các yếu tố và mục tiêu trước mắt, thời gian hoạt động và phát huy tác dụng thường ngắn, trong khoảng từ 2 đến dưới 5 năm. Trong đầu tư ngắn hạn, huy động kỹ thuật và vật chất không lớn. Tuy nhiên, đòi hỏi của đầu tư ngắn hạn phải đảm bảo các yếu tố để thu hồi vốn nhanh, phải hoàn thành công trình sớm và sớm đưa vào khai thác, thị trường sẵn sàng và sản phẩm được tiêu thụ nhanh nhạy. - Đầu tư trung hạn và dài hạn: là những đầu tư đòi hỏi nhiều về vốn đầu tư và lâu dài về thời gian phát huy tác dụng, thường trên 5-10-15-20 năm hoặc lâu hơn.
* Phân loại theo tính chất quản lý, bao gồm: - Đầu tư gián tiếp: chủ đầu tư chỉ đóng vai trò góp vốn mà không tham gia quản lý, điều hành. Dạng này thường thấy ở lĩnh vực đầu tư tài chính, như: đầu tư mua cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, hoặc mua trái phiếu do nhà nước hoặc doanh nghiệp phát hành. Thực chất trong đầu tư gián tiếp, người bỏ vốn (nhà đầu tư) và nhà quản trị sử dụng vốn là khác chủ thể. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 - Đầu tư trực tiếp: là đầu tư mà trong đó chủ đầu tư vừa bỏ vốn, vừa trực tiếp tham gia quản lý, điều hành.
Thực chất trong đầu tư trực tiếp, người bỏ vốn và nhà quản lý sử dụng vốn là một chủ thể. + Do người bỏ vốn và nhà quản trị sử dụng vốn là một chủ thể, nên chính chủ thể này hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả đầu tư của chính mình. + Kết quả đầu tư có thể lãi hoặc lỗ. Có nghĩa là, khi đầu tư trực tiếp, người bỏ vốn, đồng thời là nhà quản trị sử dụng vốn, chấp nhận nguyên tắc “lời ăn – lỗ chịu”.
+ Trong đầu tư trực tiếp có đầu tư trực tiếp trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài. Vai trò của đầu tư Tại Đại hội lần thứ XII, Đảng ta đã khẳng định: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật”. Đại hội XII của Đảng chính là Đại hội có nhiều nhận thức mới đối với các thành phần kinh tế, đó là khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước; vai trò động lực quan trọng của nền kinh tế đối với kinh tế tư nhân; quan điểm lựa chọn tiếp nhận kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; và quan tâm hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp khởi nghiệp… Từ việc xem xét bản chất của đầu tư phát triển, các lí thuyêt kinh tế, cả lí thuyết kinh tế kế hoạch hoá tập trung và lí thuyết kinh tế thị trường đều coi đầu tư phát triển là nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế, là chìa khoá của sự tăng trưởng. * Tác động của đầu tư đến kinh tế vi mô (doanh nghiệp) Căn cứ theo dòng đời của doanh nghiệp thì đầu tư có vai trò quyết định đến cả sự ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi cơ sở.
Đầu tư có thể có tác dụng mở rộng sản xuất, nâng cao năng suất, nâng cao chất lượng, phát triển sản phẩm mới, làm tăng khả năng thu lợi cho sản phẩm hiện có tùy theo đối tượng đầu tư. Đầu tư tài sản cố định, bao gồm: đầu tư xây lắp; đầu tư mua sắm máy móc thiết bị; đầu tư tài sản cố định khác có tác dụng nâng cao công suất sản xuất,mở rộng sản xuất(theo chiều rộng) hoặc đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất hay TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 chất lượng sản phẩm(theo chiều sâu). Đầu tư tài sản cố định thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng đầu tư của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp sản xuất. Đầu tư tài sản lưu động, bao gồm các chi phí tài chính để:mua nguyên,nhiên vật liệu,vật rẽ tiền mau hỏng, trả lương cho người lao động,chi phí sản xuất chung,trả lãi vay, chi phí quản lý doanh nghiệp.Đây là khoản đầu tư có tác dụng nhiều mặt như: nâng cao năng suất,chất lượng và mẩu mã, sản phẩm;tiết kiệm chi phí giảm giá thành sản phẩm; mở rộng thị trường; nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Đầu tư tài sản tài chính bao gồm mua cổ phiếu, trái phiếu, hoặc tham gia góp vốn liên doanh với các doanh nghiệp khác có tác dụng sử dụng vốn có hiệu quả,nâng cao tỉ suất lợi nhuận cho doanh nghiệp. Hoạt động tài chính ngày càng có tỷ trọng cao và mang lại nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp. Như vậy, có thể nói hoạt động đầu tư là một trong những hoạt động có ý nghĩa chiến lược đối với doanh nghiệp. Tuy nhiên đầu tư lại là một việc không dễ dàng và rất nhạy cảm đối với quản lý doanh nghiệp.Những sai lầm trong việc dự toán vốn đầu tư có thể dẫn đến tình trạng lãng phí vốn lớn, thậm chí gây hậu quả nghiêm trọng đối với doanh nghiệp.
Vì vậy, đòi hỏi các quyết định đầu tư phải được tính toán và cân nhắc kỹ lưỡng. * Tác động của đầu tư đến kinh tế vĩ mô - Đầu tư vừa tác động đến tổng cung, vừa tác động đến tổng cầu: Về mặt cầu, đầu tư là một yếu tố chiếm tỉ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ nền kinh tế. Theo số liệu của Ngân hàng thế giới, đầu tư thường chiếm khoảng 24% -28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên thế giới. Về mặt cung, khi thành quả của đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực mới đi vào hoạt động thì tổng cung, đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng lên, kéo theo sản lượng tiềm năng tăng lên và do đó giá cả sản phẩm giảm.
Sản lượng tăng, giá cả giảm cho phép tăng tiêu dùng. Tăng tiêu dùng đến lượt mình lại tiếp tục kích thích sản xuất hơn nữa. Sản xuất phát triển là nguồn gốc cơ bản để tăng tích luỹ, phát triển kinh tế xã hội, tăng thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội. - Đầu tư tác động đến sự ổn định của nền kinh tế, theo 2 mặt: Sự tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu tư đối với tổng cầu và đối với tổng cung TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 của nền kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi của đầu tư, dù là tăng hay giảm đều cùng một lúc vừa là yếu tố duy trì sự ổn định vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định của nền kinh tế của mọi quốc gia.