Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG TRÊN CƠ SỞ ĐÁNH GIÁ RỦI RO 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 1. Khái niệm, chức năng và phân loại kiểm toán nói chung 1. Khái niệm và chức năng của kiểm toán Kiểm toán là thuật ngữ được sử dụng từ cuối thế kỷ XX.
Tuy nhiên đến nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm kiểm toán. Theo quan điểm của Pháp: Kiểm toán là việc nghiên cứu và kiểm tra các tài khoản niên độ của một tổ chức do một người độc lập đủ danh nghĩa gọi là KTV tiến hành để khẳng định rằng những tài khoản đó phản ánh đúng đắn tình hình tài chính thực tế, không che dấu sự gian lận và chúng được trình bày theo mẫu chính thức của luật định. Có quan điểm cho rằng: Kiểm toán là quá trình do các chuyên gia có trình độ nghiệp vụ được pháp luật thừa nhận tiến hành để thu thập xét đoán các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng được, liên quan đến quá trình hoạt động của một đơn vị kinh tế để xác định mức độ phù hợp giữa các thông tin có thể định lượng được với các chuẩn mực đã được thiết lập và lập báo cáo về mức độ phù hợp đó. Một khái niệm được giới nghiên cứu và thực tiễn khẳng định là phù hợp, đầy đủ, đó là theo nghĩa của Alvin Aren.
Theo Alvin Aren thì “Kiểm toán là quá trình mà theo đó một cá nhân độc lập có thẩm quyền thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin số lượng có liên quan đến một tổ chức kinh tế cụ thể nhằm mục đích xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa các thông tin số lượng đó với các chuẩn mực đã được thiết lập” 4 Mặc dù có thể có nhiều cách hiểu khác nhau về kiểm toán dưới các góc độ khác nhau, tuy nhiên chung quy lại các khái niệm đều bao hàm một số yếu tố cơ bản sau: Chức năng kiểm toán là xác minh và bày tỏ ý kiến, quan điểm kết luận của các KTV Đối tượng trực tiếp của kiểm toán là các BCTC. Khách thể kiểm toán được xác định là thực thể kinh tế hay một tổ chức. Chủ thể kiểm toán là những KTV độc lập, có nghiệp vụ. Cơ sở để thực hiện kiểm toán là căn cứ vào các quy định trong luật, tiêu chuẩn hay chuẩn mực chung.
Chính vì vậy có thể khái niệm chung nhất, đầy đủ nhất về kiểm toán như sau: “Kiểm toán là một chức năng của quản lý, là quá trình mà trong đó một hoặc một số KTV có đủ năng lực, độc lập, có thẩm quyền, tiến hành thu thập, xác minh, đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng liên quan đến các hoạt động của một đơn vị nhằm xác định và báo cáo mức độ phù hợp của các thông tin đó với các chuẩn mực đã được thiết lập” KTV đủ năng lực, độc lập có thẩm quyền: Là người đã đạt được những tiêu chuẩn chất lượng nghề nghiệp nhất định, nói cách khác phải là người có đủ khả năng để hiểu các chuẩn mực kiểm toán sử dụng và biết được các loại, số lượng bằng chứng cần thu thập nhằm đạt được kết luận hợp lý sau khi xem xét chúng; có mức độ độc lập tương ứng với từng loại hình kiểm toán và được bổ nhiệm để thực hiện chức trách này. Bằng chứng kiểm toán: Là mọi thông tin xác thực có liên quan đến hoạt động của khách hàng mà KTV thu thập được trong quá trình kiểm toán. Các thông tin này chứng minh một cách đầy đủ, thích hợp và đáng tin cậy cho các kết luận của KTV ghi trong báo cáo kiểm toán. 5 Báo cáo: Là văn bản trình bày ý kiến, nhận xét, kết luận của KTV về mức độ phù hợp giữa các thông tin và với các chuẩn mực đã được xây dựng.
Các chuẩn mực để đánh giá thông tin có thể rất phong phú, có nhiều loại đa dạng sự biến đổi linh hoạt được thiết lập tùy theo mục đích của từng loại kiểm toán như: Chuẩn mực kế toán, các văn bản pháp lý như Luật, Nghị định, Thông tư, các quy chế, nội quy của cơ quan.Tất cả các căn cứ để KTV lấy đó để so sánh sự phù hợp, tính đúng sai, mức độ chấp hành, tuân thủ các quy định của Nhà nước, của ngành, của cơ quan.đối với đơn vị tổ chức được kiểm toán. Khái niệm kiểm toán này đã bao quát toàn bộ bản chất và chức năng của kiểm toán, đã được chuyên gia kiểm toán thuộc các hiệp hội kiểm toán quốc tế thừa nhận; khái niệm đó cũng cũng rất phù hợp với thực tế tại Việt Nam. Theo khái niệm này thì kiểm toán được áp dụng đối với tất cả các đơn vị sản xuất kinh doanh, các đơn vị hành chính sự nghiệp, với bất kỳ loại hình, đối tượng kiểm toán nào như kiểm toán BCTC hoặc phi tài chính, kiểm toán tuân thủ, hoạt động. *Chức năng của kiểm toán Xuất phát từ khái niệm về kiểm toán có thể thấy kiểm toán có các chức năng cơ bản đó là chức năng xác minh; khẳng định mức độ trung thực của số liệu, tính pháp lý của việc thực hiện các nghiệp vụ hay việc lập các BCTC; đây là chức năng cơ bản nhất gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của hoạt động kiểm toán.
Bản chất chức năng này không ngừng phát triển và được thể hiện khác nhau tùy từng đối tượng cụ thể của kiểm toán là kiểm toán BCTC hay nghiệp vụ kinh tế cụ thể hoặc toàn bộ tài liệu kế toán. Phân loại kiểm toán *Phân loại theo chủ thể kiểm toán - Kiểm toán độc lập 6 Kiểm toán độc lập là loại kiểm toán được tiến hành bởi các KTV thuộc các công ty, các văn phòng kiểm toán chuyên nghiệp. Kiểm toán độc lập là hoạt động dịch vụ tư vấn được pháp luật thừa nhận và quản lý chặt chẽ. Quan hệ giữa các chủ thể kiểm toán (kiểm toán viên/tổ chức kiểm toán và đơn vị kinh tế được kiểm toán) là quan hệ mua bán dịch vụ, đơn vị kinh tế được kiểm toán trả phí dịch vụ cho các KTV theo thoả thuận trong hợp đồng kiểm toán.
Các KTV độc lập là những người hội đủ các tiêu chuẩn theo chuẩn mực kiểm toán và các qui định pháp lý về hành nghề kiểm toán Kiểm toán độc lập chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán BCTC, thực hiện các dịch vụ tư vấn tài chính, kế toán. Ngoài ra, tuỳ từng thời kỳ kinh tế và yêu cầu cụ thể của khách hàng, kiểm toán viên độc lập còn thực hiện các dịch vụ khác như kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ và đặc biệt là kiểm toán các quyết toán giá trị công trình xây dựng cơ bản hoàn thành, xác định giá trị vốn góp. Hoạt động kiểm toán độc lập là hoạt động kiểm toán rất phổ biến ở các nước có nền kinh tế phát triển, vì thế hoạt động kiểm toán nói chung thường được coi là hoạt động kiểm toán độc lập. Trong hoạt động kiểm toán độc lập thì kiểm toán BCTC là chủ yếu, theo đó đề cập về kiểm toán độc lập tức là kiểm toán độc lập BCTC.
- Kiểm toán Nhà nước Nếu kiểm toán độc lập là hoạt động dịch vụ và thu phí thì Kiểm toán Nhà nước lại là công việc kiểm toán do cơ quan Kiểm toán Nhà nước tiến hành theo luật định và không thu phí kiểm toán. Nội dung của kiểm toán chủ yếu là kiểm toán tuân thủ, xem xét việc chấp hành các chính sách, luật lệ và các chế độ của Nhà nước và đánh giá sự hữu hiệu, hiệu quả hoạt động tại các đơn vị sử dụng vốn và kinh phí của nhà nước. Cơ quan Kiểm toán Nhà nước là một tổ chức trong bộ máy quản lý của Nhà nước, Kiểm toán viên Nhà nước là các viên chức Nhà nước. 7 Kiểm toán Nhà nước nhận xét, đánh giá và xác nhận việc chấp hành các chính sách, chế độ tài chính, kế toán ở đơn vị.
Bên cạnh đó Kiểm toán Nhà nước còn có quyền góp ý và yêu cầu các đơn vị được kiểm toán sửa chữa sai phạm và kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xử lý các vi phạm, đề xuất với Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, cải tiến cơ chế quản lý tài chính kế toán cần thiết. - Kiểm toán nội bộ Là loại kiểm toán do các KTV nội bộ của đơn vị tiến hành theo yêu cầu của Giám đốc doanh nghiệp hoặc Thủ trưởng đơn vị. Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 610 thì KTBB “Là bộ phận kiểm soát trong đơn vị, thực hiện kiểm tra vì lợi ích của đơn vị này. Trong số các công việc thực hiện, chủ yếu gồm kiểm tra, đánh giá và kiểm soát tính thích đáng và hiệu quả của các hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ” Chức năng của KTNB bao gồm kiểm tra, xác nhận và đánh giá.
Nội dung kiểm toán gồm các nội dung như kiểm toán BCTC; kiểm toán báo cáo kế toán quản trị của doanh nghiệp và các đơn vị thành viên; kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động. Trên thực tế phạm vi của KTNB thay đổi và tuỳ thuộc vào qui mô, cơ cấu của đơn vị cũng như yêu cầu của các nhà quản lý. *Phân loại theo chức năng kiểm toán Ngoài cách phân loại theo chủ thể còn có một cách phân loại kiểm toán khác là phân loại theo chức năng, theo cách phân loại này thì sẽ có 3 loại kiểm toán là kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán BCTC. - Kiểm toán tuân thủ Kiểm toán tuân thủ là kiểm toán để xem xét, đánh giá đơn vị được kiểm toán có tuân thủ các thủ tục, các quy định, các quy chế, các nguyên tắc đã được các cơ quan có thẩm quyền đề ra hay không.
Để đảm bảo đơn vị hoạt động an toàn và hiệu quả thì điều cơ bản là phải tuân thủ luật pháp, chế độ chính sách và đảm bảo kiểm soát được rủi ro. Tính tuân thủ phải được quán 8 triệt trong mọi hoạt động nghiệp vụ, trong cả hoạt động quản lý, điều hành. Kiểm toán tuân thủ còn gọi là kiểm toán tính quy tắc, trong kiểm toán tuân thủ thì tính độc lập và có thẩm quyền được thể hiện rất rõ trong quá trình thực hiện kiểm toán của KTV. - Kiểm toán hoạt động Kiểm toán hoạt động là loại hình kiểm toán kiểm tra, đánh giá tính kinh tế, đánh giá tính hiệu lực và hiệu quả của một đơn vị.