Chương 1: Lý luận chung về kiểm toán các khoản phải thu khách hàng trong kiểm toán báo cáo tài chính 3 Chương 2: Thực trạng kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH kiểm toán và định giá AAFC. Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng tại công ty TNHH kiểm toán và định giá AAFC. Do còn hạn chế về kiến thức, kinh nghiệm và cách diễn đạt ý nên khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong được sự chỉ bảo, góp ý của thầy cô cùng những người quan tâm để khóa luận của em ngày càng hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình, chu đáo của PGS.TS Lê Văn Luyện và các anh chị KTV trong công ty TNHH Kiểm toán và định giá AAFC đã giúp em hoàn thành khóa luận này.
Hà Nội,ngày 25 tháng 5 năm 2018 Sinh viên Phạm Thị Thu Loan 4 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM TOÁN CÁC KHOẢN PHẢI THU KHÁCH HÀNG TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÁC KHOẢN PHẢI THU KHÁCH HÀNG 1. Khái quát chung về các khoản phải thu 1. Định nghĩa các khoản phải thu Các khoản phải thu là một loại tài sản của công ty tính dựa trên tất cả các khoản nợ, các giao dịch chưa được thanh toán hoặc bất cứ nghĩa vụ tiền tệ nào mà các con nợ hay khách hàng chưa thanh toán cho công ty.
Các khoản phải thu được kế toán của công ty ghi lại và phản ánh trên bảng cân đối kế toán, bao gồm tất cả các khoản nợ công ty chưa đòi được, tính cả các khoản nợ chưa đến hạn thanh toán. Phân loại các khoản phải thu Việc phân loại các khoản phải thu là phải thu khách hàng, các khoản ứng trước cho người bán, phải thu nội bộ, phải thu khác được thực hiện theo nguyên tắc: - Khoản ứng trước cho người bán là các khoản doanh nghiệp đã trả tiền cho người bán nhưng chưa nhận được hàng hóa, dịch vụ. - Phải thu của khách hàng gồm các khoản phải thu mang tính chất thương mại phát sinh từ giao dịch có tính chất mua – bán, như: Phải thu về bán hàng, cung cấp dịch vụ, thanh lý, nhượng bán tài sản (TSCĐ, BĐSĐT, các khoản đầu tư tài chính) giữa doanh nghiệp và người mua (là đơn vị độc lập với người bán, gồm cả các khoản phải thu giữa công ty mẹ và công ty con, liên doanh, liên kết). Khoản phải thu này gồm cả các khoản phải thu về tiền bán hàng xuất khẩu của bên giao ủy thác thông qua bên nhận ủy thác; - Phải thu nội bộ gồm các khoản phải thu giữa đơn vị cấp trên và đơn vị cấp dưới trực thuộc không có tư cách pháp nhân hạch toán phụ thuộc; - Phải thu khác gồm các khoản phải thu không có tính thương mại, không liên quan đến giao dịch mua - bán, như: + Các khoản phải thu tạo ra doanh thu hoạt động tài chính, như: khoản phải thu về lãi cho vay, tiền gửi, cổ tức và lợi nhuận được chia; + Các khoản chi hộ bên thứ ba được quyền nhận lại; Các khoản bên nhận ủy 5 thác xuất khẩu phải thu hộ cho bên giao ủy thác; + Các khoản phải thu không mang tính thương mại như cho mượn tài sản, phải thu về tiền phạt, bồi thường, tài sản thiếu chờ xử lý… - Khi lập Báo cáo tài chính, kế toán căn cứ kỳ hạn còn lại của các khoản phải thu để phân loại là dài hạn hoặc ngắn hạn.
Các chỉ tiêu phải thu của Bảng cân đối kế toán có thể bao gồm cả các khoản được phản ánh ở các tài khoản khác ngoài các tài khoản phải thu, như: Khoản cho vay được phản ánh ở TK 1283; Khoản ký quỹ, ký cược phản ánh ở TK 244, khoản tạm ứng ở TK 141… Việc xác định các khoản cần lập dự phòng phải thu khó đòi được căn cứ vào các khoản mục được phân loại là phải thu ngắn hạn, dài hạn của Bảng cân đối kế toán. - Kế toán phải xác định các khoản phải thu thỏa mãn định nghĩa của các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ (được hướng dẫn chi tiết ở tài khoản 413 – Chênh lệch tỷ giá hối đoái) để đánh giá lại cuối kỳ khi lập Báo cáo tài chính. - Nợ phải thu được trình bày theo giá trị ghi sổ trừ (-) đi các khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi. - Trong các khoản mục nợ phải thu, nợ phải thu khách hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất.
Bản chất của các khoản phải thu khách hàng Khoản phải thu khách hàng là các khoản nợ phải thu của doanh nghiệp với khách hàng về tiền bán sản phẩm, hàng hóa, BĐSĐT, TSCĐ, các khoản đầu tư tài chính, cung cấp dịch vụ, các khoản phải thu của người nhận thầu XDCB với người giao thầu về khối lượng công tã XDCB đã hoàn thành. Nó thể hiện phần tài sản của doanh nghiệp đang bị chiếm dụng trong quá trình thanh toán. Chính vì vậy, khoản mục nợ phải thu có ảnh hưởng không nhỏ tới tình hình tài chính thanh toán cũng như khả năng quay vòng vốn của doanh nghiệp. Nợ phải thu khách hàng là khoản mục dễ xảy ra gian lận và sai sót, doanh nghiệp có xu hướng khai tăng các khoản phải thu để tăng tài sản.
Mặt khác, nợ phải thu khách hàng được trình bày theo giá trị thuần có thể thực hiện được. Trích lập dự phòng phải thu khó đòi thường dựa vào ước tính mang tính chủ quan nên có nhiều khả năng sai sót và khó kiểm tra. Bản chất của khoản dự phòng các khoản phải thu 6 khách hàng là làm tăng chi phí quản lý doanh nghiệp trong kì lập dự phòng, làm giảm lợi nhuận của kì báo cáo. Đặc điểm của các khoản phải thu khách hàng ảnh hƣởng đến quá trình kiểm toán - Phải thu khách hàng là một loại tài sản của doanh nghiệp bị người mua chiếm dụng mà đơn vị có trách nhiệm phải thu hồi.
Từ các đặc điểm trên thì có thể thấy khoản mục phải thu khách hàng thường có xu hướng khai tăng, vì vậy mà khi kiểm toán thì KTV nên đặc biệt lưu ý đến những nghiệp vụ làm tăng khoản mục này. Khi kiểm toán thì KTV cũng cần lưu ý đến mục tiêu kiểm toán “sự hiện hữu và quyền sở hữu” của số dư phải thu khách hàng. - Khoản mục phải thu khách hàng là một trong những khoản mục quan trọng trên BCĐKT của doanh nghiệp, là một trong những khoản mục chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản, sai lệch khoản mục này cũng ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC. Vì vậy đây là khoản mục khá nhạy cảm và dễ xảy ra gian lận như bị nhân viên chiếm dụng hoặc tham ô nên dễ bị khai khống trên BCTC do đó khi phân công thành viên kiểm toán nên lựa chọn người có năng lực, kinh nghiệm, thường xuyên được giao kiểm toán phần hành này.
Nếu là khách hàng cũ thì nên lựa chọn thành viên đã kiểm toán phần hành này cho khách hàng ở năm kiểm toán trước vì đã có những hiểu biết về công ty từ trước từ đó có những hướng kiểm toán thích hợp nhất. - Khoản mục phải thu khách hàng có mối liên hệ với nhiều khoản mục khác trên BCĐKT và BCKQHĐKD. Trong quá trình giao dịch với khách hàng phát sinh rất nhiều nghiệp vụ liên quan đến quan hệ thanh toán, trong đó có khoản mục phải thu khách hàng. Khi doanh nghiệp chấp nhận bán vật tư hàng hóa, hay cung cấp dịch vụ của mình theo phương thức trả trước hay phương thức bán chịu thì xuất hiện nợ phải thu khách hàng.
Do đó dễ thấy, nếu số tiền của khoản nợ phải thu khách hàng tăng lên thì tiền mặt thu được từ bán hàng sẽ giảm xuống và ngược lại. Bên cạnh đó, nếu nợ phải thu tăng lên cùng với sự gia tăng của hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ hay trao đổi là sự giảm xuống của hàng tồn kho, nguyên vật liệu…ngoài ra khoản mục nợ phải thu khách hàng cũng có quan hệ gián tiếp với một số tài khoản như thuế thu nhập doanh nghiệp khi nó là cơ sở để lập dự phòng phải thu khó đòi, 7 do đó ảnh hưởng đến chi phí tài chính hoặc thuế giá trị gia tăng đầu ra…Không chỉ ảnh hưởng tới một số khoản mục trên BCĐKT như trên mà khoản nợ phải thu khách hàng còn có mối liên hệ với một số khoản mục khác trên bảng kết quả hoạt động kinh doanh như doanh thu, giá vốn hàng bán…Thông thường khi doanh thu cũng như giá vốn tăng lên thì các khoản nợ phải thu khách hàng cũng tăng lên nếu chính sách bán chịu không thay đổi. Vì vậy khi tiến hành kiểm toán phải kết hợp kết quả kiểm toán các khoản mục liên quan như doanh thu, tiền, hàng tồn kho,. - Nợ phải thu khách hàng liên quan đến nhiều đối tượng vì vậy gây khó khăn trong việc quản lý nợ, cũng như trong kiểm toán khoản mục nợ phải thu khách hàng khi thu thập các xác nhận công nợ.
- Phải thu khách hàng được trình bày theo giá trị thuần có thể thực hiện được, tuy nhiên do việc lập dự phòng phải thu khó đòi thường dựa vào ước tính của các nhà quản lý nên có nhiều khả năng sai sót và khó kiểm tra. Do vậy, KTV cần chú trọng kiểm tra toàn bộ các bút toán trích lập dự phòng phải thu khó đòi của khách hàng. Lập bảng phân tích tuổi nợ để trích lập dự phòng cho hợp lý.3 Kế toán nợ phải thu khách hàng và dự phòng nợ phải thu khó đòi 1. Kế toán nợ phải thu khách hàng * Nguyên tắc kế toán các khoản phải thu khách hàng Theo thông tư 200/2014/TT-BTC Hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp, khi hạch toán nợ phải thu khách hàng phải tuân thủ các nguyên tắc sau: - Sử dụng tài khoản 131- Nợ phải thu khách hàng, phản ánh các khoản nợ phải thu của doanh nghiệp với khách hàng về tiền bán sản phẩm, hàng hóa,bất động sản đầu tư, tài sản cố định, các khoản đầu tư tài chính, cung cấp dịch vụ, các khoản phải thu của người nhận thầu xây dựng cơ bản với người giao thầu về khối lượng công tác xây dựng cơ bản đã hoàn thành.
- Các khoản phải thu khách hàng của doanh nghiệp phải được hạch toán chi tiết theo đối từng đối tượng khách hàng. Khi hạch toán không được phép bù trừ các khoản phải thu và phải trả của các khách hàng khác nhau nếu không có sự thỏa thuận giữa các bên với doanh nghiệp.