CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ CHU TRÌNH BÁN HÀNG VÀ THU TIỀN 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1. Khái niệm về kiểm soát nội bộ Theo Ủy ban COSO (Committee Of Sponsoring Organizations) – một Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về việc chống gian lận về báo cáo tài chính thì: "KSNB là một quá trình bị chi phối bởi người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị, nó được thiết lập để cung cấp một sự bảo đảm hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu sau đây: - Sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động. - Sự tin cậy của báo cáo tài chính.
- Sự tuân thủ pháp luật và các quy định.” [3, tr2] Định nghĩa trên có bốn khái niệm quan trọng cần lưu ý đó là quá trình, con người, đảm bảo hợp lý và mục tiêu. * Kiểm soát nội bộ là một quá trình: tức là kiểm soát nội bộ không phải là một sự kiện hay một tình huống mà là một chuỗi các hoạt động kiểm soát hiện diện ở mọi bộ phận trong đơn vị và được kết hợp với nhau thành một thể thống nhất. Quá trình kiểm soát là phương tiện để giúp cho đơn vị đạt được các mục tiêu của mình. * Kiểm soát nội bộ được thiết kế và vận hành bởi con người: KSNB là một công cụ được nhà quản lý sử dụng chứ không thay thế được cho nhà quản lý.
Nó được thực hiện bởi những con người trong tổ chức, bởi suy nghĩ và hành động của họ. Chính họ sẽ vạch ra mục tiêu, đưa ra biện pháp kiểm soát và vận hành chúng. * Kiểm soát nội bộ chỉ có thể cung cấp sự bảo đảm hợp lý cho các nhà quản lý trong việc đạt được mục tiêu của tổ chức chứ không bảo đảm tuyệt Luan van 8 đối. Điều này xuất phát từ những hạn chế tiềm tàng trong quá trình xây dựng và vận hành hệ thống KSNB đó là sai lầm của con người khi đưa ra các quyết định, sự thông đồng của các cá nhân hay sự lạm quyền của nhà quản lý có thể vượt khỏi KSNB… * Các mục tiêu: Mỗi đơn vị thường có các mục tiêu kiểm soát cần đạt được để từ đó xác định các chiến lược cần thực hiện.
Đó có thể là mục tiêu chung cho toàn đơn vị hay mục tiêu cụ thể cho từng hoạt động, từng bộ phận trong đơn vị. Có thể chia các mục tiêu các mục tiêu kiểm soát mà đơn vị cần thiết lập thành ba nhóm sau đây: - Nhóm mục tiêu về hoạt động: nhấn mạnh đến sự hữu hiệu và hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực. - Nhóm mục tiêu về báo cáo tài chính: nhấn mạnh đến tính trung thực và đáng tin cậy của báo cáo tài chính mà tổ chức cung cấp. - Nhóm mục tiêu về sự tuân thủ: nhấn mạnh đến việc tuân thủ pháp luật và các quy định.
Sự phân chia các nhóm mục tiêu như trên chỉ có tính tương đối vì một mục tiêu cụ thể có thể liên quan đến 2 hoặc 3 nhóm trên. Sự phân chia này chủ yếu dựa vào sự quan tâm của các nhóm đối tượng khác nhau đối với KSNB của đơn vị; nhóm mục tiêu về hoạt động xuất phát từ yêu cầu của các cổ đông, nhà đầu tư và chủ nợ, nhóm mục tiêu về sự tuân thủ xuất phát từ yêu cầu của các cơ quan quản lý. Như vậy, KSNB là một chức năng thường xuyên của các doanh nghiệp và trên cơ sở xác định những rủi ro có thể xảy ra trong từng khâu công việc để tìm ra biện pháp ngăn chặn nhằm thực hiện có hiệu quả tất cả các mục tiêu đề ra của đơn vị. Vì thế một hệ thống KSNB hiệu quả giúp doanh nghiệp tránh được những rủi ro ngoài kỳ vọng; giúp giảm rủi ro thiệt hại đến uy tín và danh tiếng của doanh nghiệp; đảm bảo việc tuân thủ với các quy định về pháp lý, Luan van 9 chính sách và các quy định, thủ tục nội bộ; góp phần duy trì một hệ thống báo cáo tài chính và quản lý đáng tin cậy.
Chức năng, nhiệm vụ của hệ thống kiểm soát nội bộ Hệ thống KSNB của một doanh nghiệp có các chức năng và nhiệm vụ sau: - Giúp cho việc quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp một cách có hiệu quả. - Bảo đảm rằng các quyết định và chế độ quản lý được thực hiện đúng thể thức và giám sát mức hiệu quả của các chế độ và quyết định đó. - Phát hiện kịp thời những vấn đề trong kinh doanh để đề ra các biện pháp giải quyết. - Ngăn chặn, phát hiện các sai phạm và gian lận trong các hoạt động, các bộ phận của doanh nghiệp.
- Ghi chép kế toán đầy đủ, chính xác và đúng thể thức về các nghiệp vụ và hoạt động kinh doanh. - Đảm bảo việc lập các báo cáo tài chính kịp thời, hợp lệ và tuân theo các yêu cầu pháp định có liên quan. - Bảo vệ tài sản và thông tin không bị lạm dụng và sử dụng sai mục đích. Mục tiêu tổng quát của hệ thống kiểm soát nội bộ Để đảm bảo ngăn ngừa sai sót trong sổ sách kế toán, cơ cấu KSNB của doanh nghiệp phải thực hiện được các mục tiêu sau: - Các nghiệp vụ ghi sổ phải có căn cứ hợp lý.
Cơ cấu KSNB không thể cho phép việc ghi vào sổ sách kế toán những nghiệp vụ không tồn tại hoặc những nghiệp vụ giả. - Các nghiệp vụ kinh tế phải được phê chuẩn đúng đắn. Nếu nghiệp vụ kinh tế không được phê chuẩn xảy ra, đó có thể là một nghiệp vụ gian lận, và nó có thể ảnh hưởng làm lãng phí hoặc phá hoại tài sản của DN. Luan van 10 - Các nghiệp vụ kinh tế hiện có phải được ghi sổ.
Các thủ tục KSNB phải đảm bảo ngăn ngừa việc bỏ các nghiệp vụ kinh tế ngoài sổ sách. - Các nghiệp vụ kinh tế phải được đánh giá đúng đắn. Một cơ cấu KSNB đầy đủ phải gồm các thể thức để ngăn ngừa các sai số khi tính toán và ghi sổ số tiền của các nghiệp vụ ở các gian đoạn khác nhau của quá trình ghi sổ. - Các nghiệp vụ kinh tế phải được phân loại đúng đắn.
- Các nghiệp vụ kinh tế phải được phản ánh đúng lúc. - Các nghiệp vụ kinh tế phải được chuyển sổ và tổng hợp chính xác. Các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ a. Môi trường kiểm soát Môi trường kiểm soát phản ánh sắc thái chung của một tổ chức, tác động đến ý thức của mọi người trong đơn vị là nền tảng cho các bộ phận khác trong hệ thống kiểm soát nội bộ.
Môi trường kiểm soát chịu ảnh hưởng của văn hóa và lịch sử của tổ chức và ngược lại nó lại ảnh hưởng đến ý thức của nhân viên trong tổ chức đó. Môi trường kiểm soát ảnh hưởng đến cách thức kinh doanh của một tổ chức, đến các mục tiêu được thiết lập đến các bộ phận còn lại của hệ thống kiểm soát nội bộ. Môi trường kiểm soát bao gồm các nhân tố: văn hóa của tổ chức; cam kết về năng lực, triết lý và phong cách điều hành của nhà quản lý; cách thức phân định quyền hạn và trách nhiệm, chính sách nhân sự; và sự quan tâm, chỉ đạo của Hội đồng quản trị. Các nhân tố này đều quan trọng trong môi trường kiểm soát.
Nhưng đối với từng doanh nghiệp cụ thể mức quan trọng của mỗi nhân tố là khác nhau tùy thuộc vào từng doanh nghiệp. Đánh giá rủi ro Đánh giá rủi ro là một trong những nội dung quan trọng của quản lý. Thông thường trong các hoạt động của đơn vị có một số công việc rất ít khả năng xảy ra sai phạm, nhưng đối với một số công việc khác, khả năng xảy ra thất thoát, lãng phí hoặc sai phạm là rất lớn. Mặt khác vì yêu cầu hiệu quả của hệ thống kiểm soát, doanh nghiệp không thể tập trung ở mức cao các nguồn lực để kiểm soát tất cả các khâu hoạt động của đơn vị mà thường chỉ tập trung nguồn lực, nhân lực để kiểm soát chặt chẽ những khâu trọng yếu có nhiều khả năng xảy ra sai phạm.
Để thực hiện tốt cách thức đó, người quản lý phải đánh giá rủi ro, bao gồm rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát. Đánh giá rủi ro tiềm tàng là đánh giá khả năng xảy ra sai sót, gian lận nằm ngay trong đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị, như đối với đơn vị xây dựng, thì khả năng thất thoát vật tư, nguyên vật liệu là lớn hơn những đơn vị chế biến cá đông lạnh, do các hoạt động của đơn vị xây dựng phải thực hiện bên ngoài khuôn viên của doanh nghiệp. Đánh giá rủi ro kiểm soát là đánh giá tính hiệu quả, hiệu lực của hệ thống kiểm soát để phát hiện ra những khâu kiểm soát thiếu và yếu không thể kiểm soát có hiệu quả các hoạt động, để tăng cường nhân lực, vật lực vào các điểm xung yếu của hệ thống, tạo nên sự vững chắc của hệ thống kiểm soát. Như vậy việc thường xuyên đánh giá rủi ro kiểm soát sẽ giúp người quản lý đưa ra được các giải pháp kịp thời, hiệu quả điều chỉnh, củng cố hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị một cách thích hợp.
Thủ tục kiểm soát Thủ tục kiểm soát được nhà quản lý đơn vị xây dựng để thực hiện các mục đích KSNB. Các thủ tục kiểm soát được thiết kế phù hợp với từng loại nghiệp vụ cụ thể và với đặc điểm của đơn vị nên rất khác nhau giữa các đơn vị và các nghiệp vụ khác nhau. Các thủ tục kiểm soát chủ yếu bao gồm: Lập kiểm tra, so sánh và phê duyệt các số liệu, tài liệu liên quan đến đơn vị; kiểm Luan van 12 tra tính chính xác của số liệu tính toán; kiểm tra chương trình ứng dụng và môi trường tin học; kiểm tra số liệu giữa kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết; kiểm tra và phê duyệt các tài liệu kế toán; đối chiếu số liệu nội bộ với số liệu bên ngoài; so sánh đối chiếu kết quả kiểm kê thực hiện với số liệu trên sổ kế toán; giới hạn việc tiếp cận trực tiếp với các tài sản và các tài liệu kế toán; phân tích, so sánh giữa số liệu thực tế với dự toán, kế hoạch. Các thủ tục kiểm soát đều được xây dựng trên những nguyên tắc nhất định đó là phân công phân nhiệm, bất kiêm nhiệm và ủy quyền phê chuẩn.