phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung nghiên cứu của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về kiểm soát nội bộ trong ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thƣơng mại cổ phần ngoại thƣơng chi nhánh Thanh Hóa. Chƣơng 3: Một số giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thƣơng mại cổ phần ngoại thƣơng chi nhánh Thanh Hóa. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Khái quát chung về kiểm soát nội bộ 1. Khái niệm về kiểm soát nội bộ Bất cứ một đơn vị nào cũng cần phải đảm bảo hệ thống nội bộ vững chắc thì mới có nền tảng để xây dựng, phát triển và giữ vững đƣợc vị thế trên thị trƣờng. Chính vì vậy, khái niệm về KSNB ra đời thể hiện vai trò, vị trí đối với hoạt động quản trị trong một đơn vị. Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ đƣa ra khái niệm:“Kiểm soát nội bộ bao gồm kế hoạch của tổ chức và tất cả các phương pháp phối hợp và đo lường được thừa nhận trong doanh nghiệp để bảo đảm an toàn tài sản, kiểm tra sự phù hợp và độ tin cậy của dữ liệu kế toán, tăng cường tính hiệu quả của hoạt động và khuyến khích việc thực hiện các chính sách quản lý lâu dài”.
COSO là một Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận khi lập báo cáo tài chính đã đƣa ra khái niệm lần đầu tiên vào năm 1992 cho rằng: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình ảnh hưởng bởi hội đồng quản trị, nhà quản trị, các bộ phận khác, được thiết kế để cung cấp sự đảm bảo hợp lý rằng doanh nghiệp đạt được các mục tiêu: hiệu quả và hiệu năng của hoạt động; độ tin cậy của báo cáo tài chính; tuân thủ các quy định, luật hiện hành” [18]. Sau một số lần chỉnh sửa, bổ sung thì đến tháng 6 năm 2013, COSO đã đƣa ra quan điểm mới nhất về KSNB đó là: “KSNB là quá trình do người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện các mục tiêu liên quan đến hoạt động báo cáo và tuân thủ”[21]. Tại Việt Nam, khái niệm về KSNB đƣợc đề cập trong chuẩn mực kiểm toán số 400 ban hành năm 2001 cho rằng: Hệ thống kiếm soát nội bộ được hiểu là quy định và các thủ tục kiểm soát do đơn vị được kiểm toán xây dựng 4 và áp dụng nhằm bảo đảm cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các quy đinh, để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót; để lập báo cáo tài chính trung thực và hợp lý; nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị” [2].Quan điểm này đƣợc tiếp cận theo hƣớng tập trung chủ yếu vào kiểm soát kế toán. Đến năm 2012 chuẩn mực kiếm toán số 315 thay thế cho chuẩn mực kiểm toán số 400 đƣa ra quan điểm về KSNB đó là: “KSNB là quy trình do Ban quản trị, Ban Giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì để tạo ra sự đảm bảo hợp lý về khả năng đạt được mục tiêu của đơn vị trong việc đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính, đảm bảo hiệu quả, hiệu suất hoạt động, tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan” [2].
Theo quan điểm của Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 315 thì KSNB là quy trình đƣợc thiết kế và vận hành bởi các cá nhân, bộ phận trong tổ chức chứ không phải do một cá nhân đơn lẻ nào, gồm: Ban quản trị, Ban Giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị. Quan điểm này có nhiều nét tƣơng đồng với quan điểm COSO (2013). Đối tƣợng của KSNB đƣợc mở rộng và mục tiêu của KSNB cũng đƣợc bao quát hơn, gồm cả mục tiêu về độ tin cậy của BCTC, mục tiêu về hiệu quả hoạt động và mục tiêu về tính tuân thủ các quy định. Khái niệm về KSNB cũng đƣợc đề cập trong Luật Kế toán số 88/2015/QH13 cho rằng: “KSNB là việc thiết lập và tổ chức thực hiện trong nội bộ đơn vị kế toán các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ phù hợp với quy định của pháp luật nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra” [15].
Quan điểm này đƣa ra mục tiêu của KSNB có sự khác biệt hơn đó là phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt đƣợc yêu cầu đề ra. Nhƣ vậy, khái niệm về KSNB đƣợc tiếp cận dƣới nhiều góc độ khác nhau nhƣng có thể chỉ ra những đặc trƣng cơ bản đó là: 5 - Thứ nhất, KSNB là một quá trình, không chỉ là một thủ tục hay một chính sách đƣợc thực hiện ở một vài thời điểm nhất định mà đƣợc vận hành liên tục ở tất cả mọi cấp độ trong đơn vị. - Thứ hai, KSNB nhằm thực hiện bốm mục tiêu cơ bản đó là: nhận diện và xử lý kịp thời các rủi ro của đơn vị; Đảm bảo tính trung thực, hợp lý và độ tin cậy của thông tin các trên BCTC; Đảm bảo hợp lý tính tuân thủ luật pháp và các quy định và Đảm bảo tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả của các hoạt động trong đơn vị. - Thứ ba, KSNB đƣợc thiết lập bởi các bộ phận bên trong đơn vị nhằm thực hiện các mục tiêu chung.
- Thứ tƣ, KSNB cung cấp một sự đảm bảo hợp lý, có thể ngăn chặn và phát hiện những sai phạm. Tuy nhiên KSNB không đảm bảo các sai phạm không bao giờ xảy ra do luôn có khả năng tồn tại những yếu kém xuất phát từ sai lầm của con ngƣời khi vận hành hệ thống kiểm soát, dẫn đến việc không thực hiện đƣợc mục tiêu. Hơn nữa, nguyên tắc lợi ích – chi phí luôn đƣợc cân nhắc trong việc đƣa ra các quyêt định quản trị. Chính vì vậy, KSNB chỉ có thể đảm bảo một cách hợp lý là các mục tiêu sẽ đƣợc thực hiện chứ không phải đảm bảo tuyệt đối.
Từ các quan điểm trên, tác giả cho rằng: “KSNB là quá trình được thiết kế và vận hành bởi các cá nhân trong đơn vị nhằm giúp đơn vị nhận diện và xử lý kipwj thời các rủi ro để đạt được các mục tiêu trong việc đảm bảo độ tin cậy của BCTC, đảm bảo hiệu quả, hiệu lực của các hoạt động và tuân thủ các quy định và luật lệ có liên quan”. Vai trò của kiểm soát nội bộ Xu hƣớng toàn cầu hóa mở ra những cơ hội và thách thức cho các tổ chức trong nền kinh tế. Với sự đa dạng của các loại hình hoạt động, quá trình đẩy nhanh việc vốn hóa của môi trƣờng kinh doanh tại Việt Nam, theo đó các nhà đầu tƣ vốn đang dần tách khỏi vai trò quản lý chính vì vậy một hệ thống 6 KSNB hữu hiệu, hiệu quả đang là nhu cầu cấp thiết. Vai trò của KSNB đƣợc thể hiện nhƣ sau: Thứ nhất, KSNB giúp đảm bảo tính chính xác của các số liệu kế toán và BCTC của đơn vị.
BCTC của đơn vị phản ánh khái quát tình hình tài chính cũng nhƣ các thông tin cần thiết cho đối tƣợng bên ngoài quan tâm đến tình hình tài chính của đơn vị. Vì vậy, một BCTC trung thực sẽ có ý nghĩa rất quan trọng đối với ngƣời sử dụng thông tin. Hệ thống KSNB sẽ xây dựng và thực hiện cơ chế soát xét đặc thù của đơn vị nhằm hạn chế các sai sót trong đó có sai sót kế toán. KSNB sẽ thực hiện giám sát sổ sách kế toán định kỳ đảm bảo các thông tin tài chính đƣợc ghi nhận đầy đủ, kịp thời, tuân thủ quy định pháp luật và các nội quy, quy định của đơn vị.
Trƣớc khi các BCTC đƣợc công bố ra bên ngoài, KSNB sẽ thực hiện soát xét các dữ liệu nhằm đảm bảo các thông tin tài chính tuân thủ các khuôn khổ BCTC và hệ thống văn bản pháp luật có liên quan. Thứ hai, KSNB giúp phát hiện và ngăn ngừa các rủi ro trong nội bộ đơn vị. Trong quá trình hoạt động của bất kỳ một đơn vị nào đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới nhƣ hiện nay thì việc đối mặt với các rủi ro là điều không thể tránh khỏi. Một hệ thống KSNB sẽ giúp phát hiện ra các rủi ro từ đó có biện pháp xử lý và ngăn ngừa hạn chế tối đa những rủi ro đó giúp đơn vị có thể tồn tại và phát triển trong thị trƣờng nhiều biến động.
Thứ ba, một hệ thống KSNB hữu hiệu sẽ tạo niềm tin vững chắc cho các cổ đông và nhà đầu tư Một hệ thống KSNB vững mạnh là một nhân tố của hệ thống quản trị doanh nghiệp vững mạnh và điều này rất quan trọng đối với những đơn vị có nhà đầu tƣ bên ngoài. Các nhà đầu tƣ sẽ thƣờng trả giá cao hơn cho những đơn vị có rủi ro thấp hơn. Điều này thể hiện vai trò quan trọng của KSNB. Nội dung của kiểm soát nội bộ trong ngân hàng thƣơng mại 1.
Ngân hàng thương mại và vai trò của ngân hàng thương mại * Ngân hàng thương mại Theo điều 4 của Luật các tổ chức tín dụng (2010) quy định: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã”. Ngân hàng thƣơng mại (NHTM) là loại hình ngân hàng đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận [14]. Hoạt động của NHTM là việc kinh doanh, cung ứng thƣờng xuyên một hoặc một số nghiệp vụ sau đây: [14].
- Nhận tiền gửi; - Cấp tín dụng - Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. * Vai trò của ngân hàng thương mại NHTM có vai trò vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế. Vai trò đó thể hiện ở những khía cạnh cụ thể nhƣ sau: Thứ nhất, NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế Hoạt động thƣờng xuyên của NHTM là hoạt động nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Thông qua nguồn vốn huy động đƣợc, NHTM thực hiện việc cấp tín dụng cho các cá nhân, DN có nhu cầu và đủ điều kiện vay vốn.