Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DN SẢN XUẤT 1. Tổng quan về kiểm soát nội bộ 1. Định nghĩa hệ thống kiểm soát nội bộ Khái niệm kiểm soát nội bộ đã hình thành và phát triển dần trở thành một hệ thống lý luận về vấn đề kiểm soát trong tổ chức. Quá trình nhận thức và nghiên cứu về kiểm soát nội bộ đã dẫn đến các quy định khác nhau từ giản đơn đến phức tạp về hệ thống.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VAS 400), hệ thống kiểm soát nội bộ là các quy định và các thủ tục kiểm soát do đơn vị được kiểm toán xây dựng và áp dụng nhằm đảm bảo cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các quy định, để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót; để lập BCTC trung thực hợp lý; nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản đơn vị Theo PGS. Trần Thị Giang Tân chủ biên và các tác giả Bộ môn kiểm toán khoa kế toán – kiểm toán trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí minh (2010) trích dẫn Hiệp hội Kế toán viên Công chứng Hoa Kỳ (AICPA) cho rằng: “Hệ thống kế hoạch, tổ chức và tất cả các phương pháp phối hợp được thừa nhận dùng trong kinh doanh để bảo vệ tài sản của các tổ chức, kiểm tra độ chính xác và tin cậy của thông tin kế toán, thúc đẩy hiệu quả hoạt động và khích lệ, bám sát chủ trương quản lý đã đặt ra” Định nghĩa này nhấn mạnh đến tầm quan trọng của hệ thống kiểm soát nội bộ đối với công việc của các kiểm toán viên trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán, tổ chức thực hiện công việc kiểm toán đến lập báo cáo kiểm toán. Theo Liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC), đã đưa ra định nghĩa: Hệ thống kiểm soát nội bộ là một hệ thống chính sách, thủ tục được thiết lập nhằm đạt được bốn mục tiêu: bảo vệ tài sản của đơn vị; bảo đảm độ tin cậy của các thông e 7 tin; bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý; bảo đảm hiệu quả hoạt động. Với định nghĩa này đã đề cập tương đối đầy đủ các khía cạnh của hệ thống kiểm soát nội bộ và nhấn mạnh đến các mục tiêu đảm bảo hiệu quả hoạt động trên cơ sở tuân thủ pháp luật và đảm bảo độ tin cậy của thông tin và độ an toàn của tài sản.
Khái niệm này có tính khái quát hoá cao và có thể sử dụng làm nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ trong các lĩnh vực khác nhau. Theo báo cáo COSO năm 1992, kiểm soát nội bộ được hiểu như sau: Kiểm soát nội bộ là một quá trình do người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện ba mục tiêu dưới đây: Báo cáo tài chính đáng tin cậy Các luật lệ và quy định được tuân thủ Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả Định nghĩa trên đã đưa ra 4 nội dung cơ bản của kiểm soát nội bộ là: quá trình, con người, đảm bảo hợp lý và mục tiêu Kiểm soát nội bộ là một quá trình Kiểm soát nội bộ bao gồm một chuỗi hoạt động kiểm soát hiện diện ở mọi bộ phận trong doanh nghiệp và được kết hợp với nhau thành một thể thống nhất. Quá trình kiểm soát là phương tiện giúp cho doanh nghiệp đạt được các mục tiêu đề ra. Kiểm soát nội bộ được thiết kế và vận hành bởi con người Kiểm soát nội bộ không chỉ đơn thuần là những chính sách, thủ tục, biểu mẫu mà bao gồm tất cả những con người trong doanh nghiệp từ Hội đồng quản trị, Ban giám đốc đến các nhân viên trong các bộ phận.
Vì vậy, chính con người định ra mục tiêu, thiết lập cơ chế kiểm soát và vận hành chúng ở mọi nơi, mọi công đoạn trong quá trình làm việc. e 8 Kiểm soát nội bộ cung cấp một sự đảm bảo hợp lý chứ không phải đảm bảo tuyệt đối rằng các mục tiêu sẽ được thực hiện Khi vận hành hệ thống kiểm soát, những rủi ro có thể xảy ra do sai lầm của con người làm ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu đã đề ra. Kiểm soát nội bộ có thể ngăn chặn và phát hiện ra những sai phạm nhưng không thể đảm bảo là chúng không bao giờ xảy ra. Thêm vào đó, nguyên tắc cơ bản khi đưa ra quyết định quản lý là chi phí cho quá trình kiểm soát không thể vượt quá lợi ích được mong đợi từ quá trình kiểm soát đó.
Vì vậy, mặc dù người quản lý có thể nhận thức đầy đủ về các rủi ro, nhưng nếu chi phí cho quá trình kiểm soát quá cao thì họ vẫn không áp dụng các thủ tục để kiểm soát rủi ro. Tuy có nhiều khái niệm về hệ thống KSNB, xong nhìn chung mục đích của hệ thống KSNB là giúp cho nhà quản lý kiểm soát và hạn chế được rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Các mục tiêu của KSNB Hoạt động của tổ chức luôn hướng về mục tiêu đề ra. Ở khu vực công, mục tiêu thường liên quan đến các dịch vụ công và lợi ích cộng đồng, bao gồm: Mục tiêu hoạt động: Nhằm đạt được sự hữu hiệu và hiệu quả trong hoạt động của đơn vị.
Mục tiêu về báo cáo: Báo cáo cung cấp các thông tin tài chính và phi tài chính kịp thời, phù hợp cho các đối tượng sử dụng. Mục tiêu tuân thủ: Tuân thủ công ước quốc tế, pháp luật của quốc gia và các quy định có liên quan. Mục tiêu về quản lý nguồn lực: Mục tiêu này là phần chi tiết hóa mục tiêu về hoạt động của đơn vị, nhưng do đặc thù của khu vực công nên INTOSAI muốn nhấn mạnh thêm tầm quan trọng của việc sử dụng hợp lý nguồn ngân sách, tránh lạm dụng lãng phí nguồn lực quốc gia. Ý nghĩa và lợi ích hệ thống kiểm soát nội bộ Một hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh sẽ giúp đem lại các lợi ích sau cho công ty: - Lợi ích lớn nhất của hệ thống KSNB mang lại cho doanh nghiệp chính là định hướng và giúp doanh nghiệp đạt được các mục tiêu đề ra.
- KSNB giúp doanh nghiệp có những thông tin rõ ràng, số liệu trên báo cáo tài chính đáng tin cậy, giúp các nhà quản trị có cái nhìn tổng quan để xây dựng kế hoạch cho doanh nghiệp trong những kỳ tiếp theo, giúp các nhà đầu tư yên tâm hơn về đối tác của họ. - KSNB giúp doanh nghiệp quản lý tốt các tài sản của mình, giảm thiểu rủi ro thất thoát, trộm cắp, hư hao tài sản khi đưa vào hoạt động. - KSNB giúp doanh nghiệp tuân thủ đúng các quy trình, quy định của doanh nghiệp, nhà nước. - KSNB giúp doanh nghiệp phân quyền các cấp quản lý, tách bạch trách nhiệm giữa quản lý với quản lý, quản lý với nhân viên, giữa nhân viên với nhau, giảm bớt sự lạm quyền của quản lý, giảm bớt những gian lận của nhân viên làm ảnh hưởng tới đơn vị, tổ chức.
Thông thường, khi công ty phát triển lên thì lợi ích của một hệ thống kiểm soát nội bộ cũng trở nên to lớn hơn vì người chủ công ty sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc giám sát và kiểm soát các rủi ro này nếu chỉ dựa vào kinh nghiệm giám sát trực tiếp của bản thân. Đối với những công ty mà có sự tách biệt lớn giữa người quản lý và cổ đông, một hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh sẽ góp phần tạo nên sự tin tưởng cao của cổ đông. Xét về điểm này, một hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh là một nhân tố của một hệ thống quản trị doanh nghiệp vững mạnh, và điều này rất quan trọng đối với công ty có nhà đầu tư bên ngoài. Các nhà đầu tư sẽ thường trả giá cao hơn cho những công ty có rủi ro thấp hơn.
Hạn chế tiềm tàng hệ thống kiểm soát nội bộ Trong bất kỳ đơn vị nào, dù đã được đầu tư nhiều trong thiết kế và vận hành nhưng hệ thống kiểm soát nội bộ vẫn không thể hoàn toàn hữu hiệu. Ngay cả khi có thể xây dựng một hệ thống hoàn hảo về cấu trúc thì hiệu quả thật sự của nó vẫn phụ thuộc vào nhân tố chủ yếu là con người, tức là phụ thuộc vào năng lực làm việc và tính đáng tin cậy của lực lượng nhân sự. Do đó, hệ thống kiểm soát nội bộ chỉ giúp hạn chế tối đa các sai phạm. Hệ thống kiểm soát nội bộ nào cũng luôn chứa đựng những hạn chế tiềm tàng.
Nguyên nhân của những hạn chế tiềm tàng là: - Những hạn chế xuất phát từ bản thân con người như sự vô ý, bất cẩn, đãng trí hay ước lượng sai, hiểu sai chỉ dẫn của cấp trên hoặc các báo cáo của cấp dưới. - Khả năng đánh lừa, lẩn tránh của nhân viên thông qua sự thông đồng với nhau hay với các bộ phận bên ngoài đơn vị. - Luôn có khả năng là các nhân viên có trách nhiệm kiểm soát lạm dụng quyền hạn của mình nhằm phục vụ lợi ích riêng. - Điều kiện hoạt động của doanh nghiệp thay đổi làm cho các thủ tục kiểm soát không còn phù hợp.
- Hoạt động kiểm soát thường chỉ nhằm vào các hoạt động thường xuyên phát sinh mà ít chú ý đến những nghiệp vụ ít phát sinh. Do đó, những sai phạm trong những nghiệp vụ này thường dễ bị bỏ ra. - Yêu cầu thường xuyên và trên hết của người quản lý là chi phí bỏ ra cho hoạt động kiểm soát phải nhỏ hơn giá trị thiệt hại được ước tính do sai sót, gian lận gây ra. Kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp sản xuất KSNB trong quy trình sản xuất cần tập trung vào 3 giai đoạn của quá trình sản xuất để từ đó có biện pháp kiểm soát rủi ro xảy ra của từng giai đoạn đó là: e 11 + Rủi ro xảy ra trước sản xuất + Rủi ro xảy ra trong sản xuất + Rủi ro xảy ra sau sản xuất Rủi ro xảy ra trước sản xuất: - Người lao động không nắm được kế hoạch sản xuất - Máy móc, trang thiết bị không sẵn sàng cho quá trình sản xuất cần phải tiến hành kiểm tra, sữa chữa máy móc, trang thiết bị trước khi ñi vào sản xuất.