Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về kiểm soát chỉ thường xuyên tại đơn vị sự nghiệp công lập. Chương 2: Thực trạng công tác kiểm soát chỉ thường xuyên tại Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh Quảng Ngãi. Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chỉ thường xuyên tại Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh Quảng Ngãi. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Trong các đơn vị hành chính sự nghiệp, cơ quan nhà nước sử dụng nguồn kinh phí hoạt động chủ yếu là từ ngân sách nhà nước.
Chính vì thế, để đảm bảo cho quá trình hoạt động thường xuyên, liên tục của các cơ quan nhà nước thì công tác kiểm soát chỉ thường xuyên đóng một vai trò rất quan trọng. Việc tìm ra các giải pháp nhằm hoàn thiện nâng cao công tác kiểm soát chỉ một cách có hiệu quả, chặt chẽ tránh trường hợp chỉ không đủ, không đúng so với dự toán ngân sách giao; thất thoát, sai sót, vi phạm pháp luật đã trở thành mối quan tâm hàng đầu. Chính vì vậy, trong những năm qua, vấn đề này đã được nhiều tổ chức, nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở các mức độ, khía cạnh, lĩnh vực tiếp cận khác nhau. Có thể kẻ đến các công trình nghiên cứu như sau: (1) Đối với luận văn thạc sỹ của tác giả Đỗ Chí Công (năm 2012) “Hoàn thiện công tác kiểm soát chỉ phí tại Furama Resort Đà Nẵng”.
Trong luận văn tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình kiểm soát chỉ phí tại đơn vị từ môi trường kiểm soát, hệ thống chứng từ số sách đến kiểm. soát các chỉ phí chủ yếu cấu thành nên giá trị sản phẩm, dịch vụ nhằm giảm. thiểu các thất thoát về chỉ phí do phát sinh không đúng mục đích. Tuy nhiên luận văn phủ hợp tại các khách sạn lớn (5sao) còn đối với các khách sạn nhỏ, trung bình dường như quy trình không thực hiện được vì nhiều yêu cầu về nguồn lực không đảm bảo.
(2) Đối với luận văn thạc sỹ của tác giả Đặng Văn Tầm (năm 2014) về để tài “Kế toán các khoản chỉ đơn vị hành chính sự nghiệp tại Bảo Tàng Vĩnh. Trong luận văn tác giả đã đánh giá thực trạng công tác chỉ hoạt động tại đơn vị và đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện hơn, tuy nhiên chưa có giải pháp hoàn thiện công tác chỉ hoạt động trong việc quản lý nguồn kinh phí, các khoản chỉ và sử dụng kết quả tài chính. (3) Đối với luận văn thạc sỹ của tác giả Mai Hoàng Hải (năm 2012)- Đại học Đà Nẵng *Kiểm soát chỉ phí tại các doanh nghiệp xây dựng - trường hợp. công ty cổ phần xây dựng sông Hồng 24”.
Trong luận văn tác giả đã đưa ra được nhiều hướng giải quyết các vấn để tồn đọng trong doanh nghiệp và đưa ra được nhiều đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý chỉ phí sản xuất trong doanh nghiệp đặc biệt tại các công ty xây dựng. Tuy nhiên, mỗi doanh nghiệp có một đặc điểm riêng cũng như một hướng kiểm soát riêng, nghiên cứu chỉ đúng tại công ty cổ phần xây dựng sông Hồng 24 còn các công ty khác như công ty cỗ phần đầu tư phát triển xây dựng Hội an thì chưa có một nghiên cứu nào. (4) Đối với luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Văn Cần (năm 2009) “Hoan thiện công tác kiểm soát chỉ ngân sách qua Kho bạc nhà nước Quảng Ngãi”. Trong luận văn tác giả đã hệ thống lại toàn bộ những vấn đề lý luận chung về công tác kiểm soát chỉ ngân sách qua Kho bạc nhà nước và chỉ ra được những nhân tố có ảnh hưởng đến công tác kiểm soát chỉ ngân sách như: Chất lượng lập và phân bổ dự toán chỉ ngân sách nhà nước; hệ thống chế độ, tiêu chuẩn, định mức chỉ ngân sách nhà nước; công tác kế toán, quyết toán chỉ ngân sách nhà nước; nhận thức và ý thức chấp hành của các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách về công tác kiểm soát chỉ ngân sách của Kho bạc Nhà nước.
Thông qua đánh giá thực trạng tác giả đã đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện công tác kiểm soát chỉ như nâng cao chất lượng lập, phân bổ và giao dự toán chỉ NSNN kịp thời, phục vụ tốt cho công tác kiểm soát chỉ của KBNN Quảng Ngài: hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn liên quan đến công tác kiểm soát chỉ NSNN qua KBNN Quảng Ngãi; tập trung đầu mối kiểm soát chỉ qua Kho bạc Nhà nước, phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong quy trình kiểm soát chỉ ngân sách các. Luận văn này đã chỉ rõ các hạn chế trong công tác kiểm soát chỉ NSNN qua Kho bạc Nhà nước Quảng Ngãi và đề xuất các giải pháp nhằm. hoàn thiện công tác kiểm soát chỉ ngân sách qua KBNN Quảng Ngãi nhằm đảm bảo sử dụng chỉ tiêu đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả. (5) Trong bài viết của tác giả Nguyễn Đình Linh - Dương Công Trinh (năm 2013) nói về: *Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát chỉ thường xuyên NSNN qua Kho bạc Nhà nước”.
Trong bài viết tác giả đã đánh giá thực trạng công soát kiểm soát chỉ thường xuyên ngân sách nhà nước qua KBNN cụ thể là: kiểm tra, kiểm soát việc tuân thủ của các chủ thể thường xuyên NSNN đối với các cơ chế, chính sách, quy trình thủ tục, điều kiện để thực hiện chỉ thường xuyên, đồng thời đã nêu những giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát chỉ thường xuyên NSNN qua KBNN. Để thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm soát chỉ thường xuyên NSNN qua KBNN, đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác kiểm soát chỉ thường xuyên của KBNN đồi hỏi phải tỉnh thông nghiệp vụ, nắm rõ các quy định, chế độ tiêu chuẩn, định mức do các cấp thẩm quyển ban hành, từ đó nâng cao tính chuyên nghiệp, hiệu qua. Các công trình nghiên cứu về tổ chức công tác kiểm soát chỉ tại các đơn vị sự nghiệp chưa có một công trình nảo nghiên cứu về hoàn thiện công tác kiểm soát chỉ tại các đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ngãi. Và công tác kiểm soát chỉ thường xuyên tại các đơn vị sự nghiệp công lập có đặc thù khác nhau thì quy trình kiểm soát chỉ thường xuyên cũng sẽ khác nhau.
Vì vậy, tác giả chọn đề tài "Hoàn thiện công tác kiểm soát chỉ thường xuyên tại Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh Quảng Ngãi" là vấn đề cấp thiết cần nghiên cứu cho luận văn của mình. CHUONG 1 NHUNG VAN DE LY LUAN CO BAN VE KIEM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. KHÁI QUÁT VỀ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP VÀ CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH CỦA ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP. Khái niệm, phân loại đơn vị sự nghiệp công lập 1.
Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước (Khoán 1 Điều 9 Luật Viên chức 2010). Để nhận biết đó là đơn vị sự nghiệp công lập, người ta có thể căn cứ vào một số tiêu thức sau: - Được cơ quan nhà nước có thẳm quyền quyết định thành lập, đăng ký hoạt động theo pháp luật; ~ Có tài khoản tại KBNN hoặc Ngân hàng đề phản ánh các khoản thu, chỉ thuộc hoạt động chuyên môn, hoạt động sản xuất kinh doanh và cung ứng, dịch vụ của đơn vị, có tài khoản tại KBNN đề phản ánh kinh phí thuộc NSNN cấp theo quy định của luật NSNN; ~ Đơn vị dự toán độc lập, có con dầu riêng và có đủ tư cách pháp nhân đẻ hoạt động, có tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của Luật Kế toán; - Hoạt động trong các lĩnh vực sự nghiệp như y tế, đảm bảo xã hội, văn hoá thông tin, thể dục thể thao, khoa học công nghệ, kinh tế. Phân lo ¡ đơn vị sự nghiệp công lập Don vi sự nghiệp công lập là những tổ chức được thành lập để thực hiện các hoạt động sự nghiệp, những hoạt động này nhằm duy trì và đảm bảo sự hoạt động bình thường của xã hội, và chủ yếu mang tính phục vụ. Căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp, đơn vị sự nghiệp được phân loại để thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính như sau: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chỉ phí hoạt động thường xuyên Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chỉ phí hoạt động thường xuyên, phần còn lại được ngân sách nhà nước cấp.
Don vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động. Việc xác định khả năng tự trang trải chỉ phí hoạt động thường xuyên của đơn vị sự nghiệp có thu dựa trên chỉ tiêu sau: Mức tự bảo đảm chỉ “Tổng số nguồn thu sự nghiệp phí hoạt ông thường = ———————— xI00 xuyên của đơn vị (6) Tổng số chỉ hoạt động thường xuyên. Tổng số nguồn thu sự nghiệp và tổng số chỉ hoạt động thường xuyên tính. theo dự toán thu, chỉ của năm đầu thời kỳ ôn định.
Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chỉ phí hoạt động là đơn vị sự nghiệp có mức tự bảo đảm chỉ phí hoạt động thường xuyên bằng hoặc lớn hơn 100%, nhà nước không phải dùng ngân sách đẻ cấp kinh phí hoạt động thường xuyên cho đơn vị. Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chỉ phí hoạt động là đơn vị sự nghiệp có mức tự bảo đảm chỉ phí hoạt động thường xuyên từ trên 10% đến dưới 100%. Nhà nước vẫn phải cấp một phần kinh phí hoạt động thường xuyên cho đơn vi Đơn vị sự nghiệp do NSNN bảo đảm toàn bộ chỉ phí hoạt động là đơn vị sự nghiệp có mức tự bảo đảm chỉ phí hoạt động thường xuyên từ 10% trở xuống. Áp dụng đối với đơn vị sự nghiệp có nguồn thu thấp hoặc không có nguồn thu, 10 nhà nước phải cấp toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên cho đơn vị.