CHƯƠNG 1: NHUNG VAN DE LY LUAN VE KIEM SOAT CHI THUONG XUYEN NGAN SACH NHA NUOC QUA KHO BAC NHA NUOC 1. Những vấn đề lý luận về kiểm soát chỉ thường xuyên ngân sách nhà nước 1. Ngân sách nhà nước 1. Khai niém Ngân sách nhà nước Thuật ngữ “Ngân sách nhà nước (NSNN)" được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế- xã hội (KT-XH) ở mọi quốc gia.
Các nhà kinh tế Nga quan niệm: Ngân sách nhà nước là bảng liệt kê các khoản thu, chỉ bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của quốc gia. Ở Việt Nam, Luật NSNN đã hai lần được sửa đổi, bổ sung bằng Luật mới. Khái niệm về NSNN trong Luật NSNN qua các thời kỳ có sự khác nhau. Khái niệm về NSNN, Luật NSNN năm 2015 tương tự như Luật NSNN năm 1996, nhưng hoàn toàn khác biệt so với Luật NSNN năm 2002.
Luật NSNN năm 1996 được Quốc hội thông qua ngày 20/03/1996 quy định: ®NSNN là toàn bộ các khoản thu, chỉ của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyên quyết định và được thực hiện trong một năm đề bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước ” (có cụm từ “dự toán”); Luật NSNN năm 2002 được Quốc hội thông qua ngày 16/12/2002 (thay thế Luật NSNN năm 1996) quy định: “MSN 1à toàn bộ các khoản thu, chỉ của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyên quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước ” (Không có cụm từ “dự toán”); Theo Khoản 14 Điều 4 Luật NSNN số 83 năm 2015 được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIHI, kỳ họp 9 thông qua ngày 25 tháng 06 năm 2015 định nghĩa: “ Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chỉ của Nhà nước được đự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyên quyết định đề đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước ” (cô cụm từ “dự toán”). Như vậy, không chỉ ở các quốc gia trên thế giới, mà ngay cả ở nước ta, khái niệm vê Ngân sách nhà nước luôn có nhiêu ý kiên khác nhau. Đặc điển của Ngân sách nhà nước NSNN nguồn lực để nuôi dưỡng bộ máy Nhà nước, đồng thời là công cụ hữu hiệu để Nhà nước quản lý, điều tiết nền kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội nên có những đặc điểm chính sau: - Thứ nhất, quản lý và sử dụng quỹ NSNN luôn gắn liền đến quyền lực kinh tế và chính trị của Nhà nước, được thực hiện dựa trên các quy định pháp luật cụ thể. NSNN là một bộ luật tài chính đặc biệt với các chủ thể được xác định theo các luật lệ như hiến pháp, luật thuế,.
Tuy nhiên, NSNN cũng là một phần của hệ thống luật do Quốc hội quyết định và thông qua hàng năm, có tính chất bắt buộc và áp dụng cho các chủ thê liên quan trong kinh tế - xã hội. - NSNN đóng vai trò như một kế hoạch tài chính tổng thể, nơi mà các cơ quan và đơn vị phải thiết lập và đưa ra các dự báo liên quan đến chính sách mà Chính phủ dự kiến thực hiện trong năm tài chính tiếp theo. Thu, chi NSNN tạo nền tang cho viéc triển khai các chính sách của Chính phủ. Các chính sách không được ghi trong NSNN sẽ không thể thực hiện.
Do đó, việc thông qua NSNN không chỉ là một sự kiện tài chính mà còn là một biểu hiện của sự đồng thuận chính trị trong Quốc hội về chính sách của Nhà nước. Nếu Quốc hội không thông qua, điều đó thể hiện sự thất bại của Chính phủ trong việc đề xuất chính sách đó, và có thê gây ra mâu thuẫn về chính trị. - Thứ ba, NSNN luôn gan chặt với sở hữu Nhà nước và mang lại lợi ích chung, lợi ích công cộng. Chỉ có Nhà nước mới có thâm quyền quyết định về việc thu - chỉ NSNN, nhằm mục đích giải quyết các mối quan hệ lợi ích trong xã hội khi tham gia phân phối nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nước với các tô chức KT-XH, các tầng lớp dân cư.
- Thứ tư, NSNN chiếm một vị trí quan trọng trong hệ thống tài chính quốc gia. Hệ thống này bao gồm các thành phần như tài chính nhà nước, tài chính doanh nghiệp, trung gian tài chính và tài chính cá nhân hoặc hộ gia đình, nhưng tài chính nhà nước là yếu tố trọng tâm. Hoạt động tài chính nhà nước ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động và phát triển của KT-XH. Tài chính nhà nước thường tập trung nguồn lực từ các cơ quan tài chính khác chủ yếu thông qua thuế và các khoản thu thuế.
Dựa trên nguồn lực này, Chính phủ sử dụng quỹ ngân sách đẻ cấp phát kinh phí, tài trợ vốn cho các tổ chức kinh tế và các đơn vị thuộc khu vực công, nhằm thúc đây phát triển KT-XH. - Thứ năm, NSNN luôn gắn liền với tính giai cấp. trong thời phong kiến, với mô hình ngân sách sơ khai và tuỳ tiện. Hoạt động thu — chỉ thường là cống nạp — ban phát giữa Nhà vua và các tầng lớp dân cư, quan lại, thương nhân và thợ thuyền.
Quyền quyết định thu — chi do Nhà vua quyết định. Trong thời kỳ hiện nay, NSNN được dự toán, thảo luận và phê chuẩn bởi cơ quan pháp quyền, thể hiện sự tham gia của toàn dân thông qua Quốc hội. NSNN được giới hạn thời gian sử dụng, được quy định nội dung thu - chi, được kiểm soát bởi hệ thống thể chế, báo chí và nhân dân. Chỉ thường xuyên ngân sách nhà nước 1.
Khai niém chỉ thường xuyên Ngân sách nhà nước Từ trước đến nay, nhà nước luôn quan tâm đặc biệt đến hoạt động chi thường xuyên của ngân sách nhà nước bằng cách thiết lập một hệ thống quy phạm pháp luật về nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ của chi thường xuyên. Theo khoản 6 Điều 4 Luật NSNN số 83 năm 2015 quy định như sau: “Cj¡ thường xuyên là nhiệm vụ chỉ của ngân sách nhà nước nhằm bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, hỗ trợ hoạt động của các tổ chức khác và thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Đặc điểm của chỉ thường xuyên Ngân sách nhà nước Thứ nhất, chỉ thường xuyên NSNN được tiến hành trên cơ sở pháp luật và kế hoạch chỉ đã được cơ quan nhà nước có thâm quyền phê duyệt. Tất cả các khoản chi thường xuyên sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước được cơ quan nhà nước có thâm quyền giao dự toán ngân sách nhà nước hằng năm.
Thứ hai, chi thường xuyên của NSNN là những khoản chi được sử dụng cho mục đích tiêu dùng, chủ yếu là để đáp ứng nhu cầu của con người, không góp phần vào việc tăng thêm tài sản hữu hình cho quốc gia. Xét về mục đích sử dụng cuối cùng của vốn cấp phát và cơ cấu chỉ NSNN theo từng niên độ, hầu hết các khoản chi thường xuyên của NSNN có hiệu lực tác động trong thời gian ngắn và đều mang tính chất tiêu dùng xã hội. Thứ ba, chi thường xuyên NSNN nhằm mục tiêu thỏa mãn nhu cầu tài chính cho sự vận hành của bộ máy nhà nước, bảo đảm cho nhà nước thực hiện được các chức năng, nhiệm vụ của mình. Kiếm soát chỉ thường xuyên ngân sách nhà nước 1.
Khái niệm kiểm soát chỉ thường xuyên Là việc tô chức và triển khai bộ máy kiểm soát chỉ (KSC) thường xuyên tại hệ thống Kho bạc Nhà nước (KBNN) đề quản lý các khoản chi từ Ngân sách Nhà nước (NSNN). KBNN đảm nhận vai trò thấm định, kiểm tra, và kiểm soát các khoản chỉ thường xuyên NSNN theo các chính sách, chế độ, và định mức chỉ tiêu do nhà nước quy định. Các hoạt động này được thực hiện dựa trên nguyên tắc, phương pháp và hình thức quản lý tài chính trong quá trình cấp phát và thanh toán các khoản chỉ thường xuyên NSNN. Dựa trên mối quan hệ giữa hệ thống pháp luật, chính sách của nhà nước, và các quy định cụ thể của các thực thẻ liên quan, công tác KSC thường xuyên tại KBNN được thực hiện.
Thông qua các mối quan hệ này và hoạt động của công tác KSC thường xuyên qua KBNN, sử dụng nguồn lực NSNN hiệu quả hơn và phục vụ cho việc phát triển KT-XH ngày càng tốt hơn. Đặc điểm của kiểm soát chỉ thường xuyên ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Thứ nhất, một khía cạnh quan trọng là sự ôn định của các khoản chi thường xuyên, được thể hiện khá rõ nét. Nguồn lực tài chính được phân bố tương đói đều cho các khoản chi thường xuyên giữa các quý trong năm, giữa các tháng trong quý, và giữa các năm trong kỳ kế hoạch. Sự ổn định và có chu kỳ của chi thường xuyên xuất phát từ tính ồn định của từng hoạt động cụ thể mà các đơn vị thuộc bộ máy Nhà nước phải thực hiện.
Chức năng và nhiệm vụ của các đơn vị này, như mua sắm trang thiết bị, tài sản, phương tiện vật tư, hệ số lương, và thưởng của cán bộ công chức, thường không có xu hướng biến động mạnh trong thời gian ngắn. Do đó, các khoản chi thường xuyên cũng không có xu hướng biến động mạnh trong thời gian ngắn tương ứng. Thứ hai, cơ cấu chỉ NSNN ở từng niên độ và mục đích sử dụng vốn cấp phát, hầu hết các khoản chỉ thường xuyên của NSNN tập trung vào nhu cầu ngắn hạn và có tính chất tiêu dùng xã hội, không làm tăng tài sản hữu hình của quốc gia. Trong khi chi đầu tư phát triển hướng tới xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật dé thúc đây nền kinh tế tương lai, chỉ thường xuyên tập trung vào việc đáp ứng nhu cầu quản lý và hoạt động của Nhà nước trong năm ngân sách.
Các khoản chi thường xuyên thường bao gồm các hoạt động hành chính, quốc phòng, an ninh, và các dự án xã hội do Nhà nước tổ chức, không tạo ra tài sản vật chất trực tiếp. Mặc dù vậy, các khoản chi này đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra môi trường kinh tế ồn định và nâng cao chất lượng lao động thông qua việc đầu tư vào giáo dục và đào tạo.Hiệu quả của chỉ thường xuyên không thê đánh giá và xác định cụ thể như chỉ đầu tư phát triển.