phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về kiểm soát chi NSNNvề đầu tƣ XDCB thuộc NSNN. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng công tác kiểm soát chi NSNNvề đầu tƣ XDCB từ NSTW và NSĐP của Kho bạc NN Sóc Sơn. Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao chất lƣợng công tác kiểm soát chi NSNNvề đầu tƣ XDCB thuộc NSNN qua KBNN Sóc Sơn. 3 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC VỀ ĐẦU TƢ XDCB 1.
Một số vấn đề chung về vốn đầu tƣ XDCB từ NSNN 1. Một số khái niệm về vốn đầu tư XDCB từ NSNN - Vốn: Theo Bách khoa toàn thƣ Việt Nam thì từ “vốn” đƣợc sử dụng với nhiều nghĩa khác nhau, nên có nhiều hình thức vốn khác nhau. Trƣớc hết, vốn đƣợc xem là toàn bộ những yếu tốđƣợc sử dụng vào việc sản xuất ra các của cải; Vốn tạo nên sự đóng góp quan trọng đối với sự tăng trƣởng của nền kinh tế. - Vốn đầu tư: Vốn đầu tƣ chính là tiền tích luỹ của xã hội của các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ là vốn huy động của dân và vốn huy động từ các nguồn khác, đƣợc đƣa vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo tiềm lực mới cho nền sản xuất xã hội.
-Vốn đầu tư XDCB: Vốn đầu tƣ XDCB là toàn bộ những chi phí để đạt đƣợc mục đích đầu tƣ bao gồm chi phí cho việc khảo sát thiết kế và xây dựng, mua sắm , lắp đặt máy móc thiết bị và các chi phí khác đƣợc ghi trong tổng dự toán. - Vốn đầu tư XDCB từ NSNN: Vốn đầu tƣ XDCB từ NSNN là một bộ phận quan trọng của vốn đầu tƣ trong nền kinh tế quốc dân, đồng thời là một nguồn lực tài chính công rất quan trọng của quốc gia. Chi đầu tƣ xây dựng cơ bản của NSNN là các khoản chi để đầu tƣ xây dựng các công trình thuộc kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội không có khả năng thu hồi vốn, các công trình của các doanh nghiệp Nhà nƣớc đầu tƣ theo kế hoạch đƣợc duyệt, các dự án quy hoạch vùng và lãnh thổ. Chi đầu tƣ xây dựng cơ bản có thể đƣợc thực hiện theo hình thức đầu tƣ xây dựng mới hoặc theo hình thức đầu tƣ xây dựng mở rộng, cải tạo, nâng cấp, hiện đại hóa các tài sản cố định và năng lực sản xuất hiện cú.Theo cơ cấu công nghệ của vốn đầu tƣ thì chi đầu tƣ xây dựng cơ bản bao gồm chi xây lắp, chi thiết bị và chi khác.
Thực chất chi đầu tƣ xây dựng cơ bản của NSNN là quá trình phân phối và sử dụng một phần vốn tiền tệ từ quỹ NSNN để đầu tƣ tái sản xuất tài sản cố định nhằm 4 từng bƣớc tăng cƣờng, hoàn thiện và hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực sản xuất phục vụ của nền kinh tế quốc dân. Dƣới giác độ là một nguồn vốn đầu tƣ nói chung, vốn đầu tƣ XDCB từ NSNN cũng nhƣ các nguồn vốn khác đó là biểu hiện bằng tiền của giá trị đầu tƣ, bao gồm các chi phí tiêu hao phục vụ cho hoạt động đầu tƣ (toàn bộ chi phí đầu tƣ. Theo luật đầu tƣ năm 2005 của Việt Nam: “Vốn đầu tư là tiền và tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp”. Dƣới góc độ là một nguồn lực tài chính Quốc gia, vốn đầu tƣ XDCB từ NSNN là một bộ phận của quỹ NSNN trong khoản chi đầu tƣ NSNN hàng năm đƣợc bố trí cho đầu tƣ vào các công trình, dự án XDCB của Nhà nƣớc.
Nội dung chi đầu tư XDCB từ NSNN Trong cơ cấu chi của NSNN, chi đầu tƣ XDCB thƣờng là khoản chi chiếm tỷ trọng tƣơng đối lớn. Tuỳ theo yêu cầu quản lý, có thể phân loại chi đầu tƣ XDCB theo các tiêu thức khác nhau: *Nếu xét theo tính chất công trình, chi đầu tư XDCB bao gồm: - Chi xây dựng mới : Là các khoản chi để xây dựng các công trình chƣa có trong nền kinh tế quốc dân. Kết qủa của quá trình này là sự hình thành các tài sản cố định mới của nền kinh tế, góp phần làm tăng số lƣợng và chất lƣợng tài sản cố định của nền kinh tế, tăng thêm năng lực sản xuất của nền kinh tế. - Chi để cải tạo, mở rộng và đổi mới kỹ thuật : Là các khoản chi để phát triển thêm quy mô sản xuất, tăng thêm công suất, năng lực và hiện đại hoá tài sản cố định hiện có.
- Chi khôi phục tài sản cố định : Là các khoản chi để xây dựng lại toàn bộ hay từng phần của những tài sản cố định đang phát huy tác dụng nhƣng bị tổn thất do các yếu tố khách quan hoặc chủ quan. *Nếu xét theo cấu thành vốn đầu tư, chi đầu tư XDCB bao gồm : - Chi về xây dựng : Là những khoản chi để xây dựng các công trình kiến trúc trong các ngành kinh tế quốc dân, nhƣ nhà máy, hầm mỏ, bệnh viện, trƣờng học. kể cả giá trị và chi phí lắp đặt các thiết bị gắn với công trình xây dựng nhƣ hệ thống cấp thoát nƣớc, hệ thống chiếu sáng. 5 - Chi về lắp đặt : Là những khoản chi để lắp đặt các thiết bị dây chuyền công nghệ.
Nhƣ vậy, các chi phí về tiền công lắp đặt, chi phí về vật liệu phụ và chi phí chạy thử có tải và không tải máy móc thiết bị hợp thành chi phí về lắp đặt. - Chi về mua sắm máy móc thiết bị: Là những khoản chi hợp thành giá trị của máy móc thiết bị mua sắm, nhƣ chi phí giao dịch; giá trị máy móc thiết bị ghi trên hóa đơn; chi phí vận chuyển, bốc dỡ… Chi về mua sắm máy móc thiết bị có ý nghĩa quyết định đến việc làm tăng thêm năng lực sản xuất của nền kinh tế quốc dân. Trong điều kiện phát triển nhƣ vũ bão của khoa học, công nghệ hiện nay, khoản chi này ngày càng tăng lên trong tổng chi đầu tƣ XDCB. - Chi xây dựng cơ bản khác: Là những khoản chi nhằm đảm bảo điều kiện cho quá trình xây dựng các công trình, nhƣ chi phí chuẩn bị đầu tƣ, chi phí khảo sát thiết kế, chi phớ xây dựng đƣờng giao thông, lán trại tạm thời phục vụ thi công, phi phí đền bù đất đai, hoa màu trên mặt bằng thực hiện dự án, chi cho bộ máy quản lý của đơn vị chủ đầu tƣ, chi phớ thuê chuyên gia, tƣ vấn, giám sát xây dựng công trình… Khoản chi này thƣờng chiếm tỷ trọng nhỏ trong chi đầu tƣ XDCB.
*Nếu xét theo trình tự XDCB, chi đầu tư XDCB bao gồm: - Chi chuẩn bị đầu tƣ : Là những khoản chi phục vụ cho nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tƣ dự án, xác định quy mô đầu tƣ, tiến hành tiếp xúc, điều tra thăm dò thị trƣờng trong nƣớc hoặc ngoài nƣớc để tìm nguồn cung ứng vật tƣ, thiết bị hoặc tiêu thụ sản phẩm. Xem xét khả năng có thể huy động các nguồn vốn để đầu tƣ và lựa chọn hình thức đầu tƣ. Tiến hành điều tra, khảo sát và chọn địa điểm xây dựng,… để lập dự án đầu tƣ và thẩm định dự án đầu tƣ. - Chi chuẩn bị thực hiện đầu tƣ: Là những khoản chi về khảo sát thiết kế, lập, thẩm định tổng dự toán, dự toán công trình, chi giải phóng mặt bằng, chi chuẩn bị xây dựng công trình kỹ thuật hạ tầng, nhƣ các công trình nƣớc, đƣờng đi, bãi chứa, lán trại… Chi đào tạo công nhân vận hành, chi cho ban quản lý công trình… - Chi thực hiện đầu tƣ: Là tất cả các khoản chi hợp thành giá trị công trình đƣợc nghiệm thu bàn giao và đã đƣợc quyết toán, bao gồm: Chi xây dựng công trình; chi mua sắm, gia công, vận chuyển, lắp đặt thiết bị; chi phí lập, thẩm tra báo cáo quyết toán vốn đầu tƣ hoàn thành, và một số khoản chi phí khác phục vụ cho quá trình thực hiện đầu tƣ.
6 Xét nội dung chi theo trình tự XDCB có ý nghĩa lớn về quản lý thời hạn xây dựng, đảm bảo quản lý chất lƣợng kỹ thuật của công trình, đảm bảo phƣơng hƣớng đầu tƣ đúng đắn, sử dụng vốn tiết kiệm và nâng cao hiệu quả của vốn đầu tƣ. Vai trò của vốn đầu tư XDCB từ NSNN Là một bộ phận cấu thành trong 5 nguồn vốn đầu tƣ toàn xã hội, tuy chỉ chiếm một tỷ trọng không lớn ( 20% - 26 %) trong tổng vốn đầu tƣ toàn xã hội chiếm 5%-7 % GDP song đầu tƣ XDCB từ nguồn NSNNcó vai trò quan trọng đặc biệt thể hiện trên các mặt sau đây: Thứ nhất, Đầu tƣ XDCB từ nguồn NSNNlà công cụ kinh tế quan trọng để nhà nƣớc trực tiếp tác động đến các quá trình kinh tế xã hội, điều tiết vĩ mô, thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế, giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nƣớc. Bằng việc cung cấp những dịch vụ công cộng nhƣ hạ tầng kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng. mà các thành phần kinh tế khác không muốn, không thể hoặc không đƣợc đầu tƣ.
Các dự án đầu tƣ từ NSNNđƣợc triển khai ở các vị trí quan trọng, then chốt nhất nhằm đảm bảo cho nền kinh tế - xã hội phát triển ổn định theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Thứ hai , Đầu tƣ XDCB từ nguồn NSNNđƣợc coi là một công cụ để nhà nƣớc chủ động điều tiết, điều chỉnh hàng loạt các quan hệ và những cân đối lớn của nền kinh tế: Đầu tƣ XDCB từ NSNNlà công cụ để Nhà nƣớc chủ động điều chỉnh tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế: Về mặt cầu: Đầu tƣ sẽ tạo ra khả năng kích cầu tiêu dùng trong sản xuất, thúc đẩy lƣu thông, tạo việc làm và thu nhập. Tuy nhiên, tác động của đầu tƣ đối với tổng cầu chỉ là ngắn hạn. Trong khi tổng cung chƣa kịp thay đổi, sự tăng lên của đầu tƣ sẽ kéo theo tổng cầu tăng, các yếu tố giá cả đầu vào của đầu tƣ tăng, sản lƣợng cân bằng tăng theo dẫn đến cân bằng cung- cầu mới.
Về mặt cung: Khi các dự án hoàn thành đƣa vào sử dụng, năng lực mới của nền kinh tế tăng lên thì lại tác động làm tăng tổng cung trong dài hạn, kéo theo sản lƣợng tiềm năng tăng, giá cả sản phẩm giảm. Sản lƣợng tăng,giá cả giảm, cho phép tăng tiêu dùng, kích thích đầu tƣ. Đây là nguồn gốc cơ bản để tăng tích luỹ, phát 7 triển kinh tế xã hội.