phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn bao gồm ba chương: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về kiểm soát chi cơ quan BHXH. Chƣơng 2: Thực trạng kiểm soát chi tại Bảo hiểm xã hội huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Chƣơng 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát chi tại Bảo hiểm xã hội huyện Hậu Lộc. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM SOÁT CHI TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI 1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của hoạt động chi tại Bảo hiểm xã hội 1.
Khái niệm về Bảo hiểm xã hội BHXH ra đời xuất phát từ nhu cầu khách quan của con người bảo vệ bản thân và gia đình trước những rủi ro xảy ra trong cuộc sống. Sự ra đời của BHXH là kết quả của một quá trình đấu tranh lâu dài giữa giai cấp công nhân làm thuê với giới chủ tư bản khi không may bị rủi ro trong quá trình lao động như ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, mất việc làm, hết tuổi lao động và chết. BHXH đã xuất hiện và phát triển cùng với quá trình phát triển KT-XH của nhân loại. Cộng hòa iên bang Đức là nước đầu tiên trên thế giới ban hành chế độ BHXH ốm đau vào năm 1883, đánh dấu sự ra đời của BHXH.
Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi BHXH là bộ phận chính cấu thành hệ thống ASXH, là chính sách xã hội quan trọng của mỗi nước. Tuy nhiên, khó có một khái niệm chung về BHXH được tất cả các quốc gia thống nhất sử dụng bởi quan niệm về vấn đề này như thế nào phụ thuộc vào nhận thức của người dân, của nhà nước, của tập quán lựa chọn và khả năng quản lý của mỗi loại rủi ro trong từng nước. Tổ chức Lao động Quốc tế (I O) đã đưa ra khái niệm về BHXH như sau: “BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua các biện pháp công cộng nhằm chống lại các khó khăn về kinh tế, xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già, chết; đồng thời đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con” [19]. Khái niệm I O đưa ra khá bao quát, tuy nhiên khi sử dụng khái niệm này trong BHXH cần lưu ý ba vấn đề: (i) các trường hợp bảo hiểm được các nước lựa chọn thường là một số trong số các trường nêu trên, không phải tất cả; (ii) đối tượng được bảo vệ bằng hệ thống BHXH thường là N Đ và thân nhân của họ, không phải là tất cả các thành viên của xã hội nói chung; (iii) 5 biện pháp công cộng được sử dụng trong BHXH thông thường là biện pháp lập quỹ chuyên dùng, từ sự đóng góp của N Đ và NSD Đ, hầu như không bao hàm sự chu cấp từ ngân sách nhà nước hoặc từ các quỹ xã hội.
Ở góc độ tài chính, BHXH được định nghĩa là quá trình thành lập và sử dụng quỹ tiền tệ dự trữ của cộng đồng N Đ dựa trên cơ sở đóng quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo trợ của Nhà nước, nhằm san sẻ rủi ro, đảm bảo thu nhập cho họ và gia đình trong những trường hợp cần thiết theo quy định của pháp luật. Tiếp cận dưới góc độ pháp luật: “BHXH là một chế định bảo vệ người lao động sử dụng nguồn đóng góp của mình, của người sử dụng lao động và được sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước, nhằm trợ cấp vật chất cho người lao động được bảo hiểm và gia đình họ trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, tai nạn lao động, hết tuổi lao động hoặc chết theo quy định của pháp luật” [11]. Khái niệm về BHXH được khái quát một cách đầy đủ tại điều 3 Luật BHXH số 58/2014/QH13: “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH” [15; tr. BHXH có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện phát triển KT-XH, chủ thể tham gia và phương thức tham gia BHXH.
BHXH được phân theo 2 loại hình gồm: BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện. Theo đó: “Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia”; “BHXH tự nguyện là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất” [15]. Dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau về BHXH, nhưng đều cho thấy 6 những đặc điểm chung sau: BHXH mang tính xã hội cao, không vì mục tiêu lợi nhuận, đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho N Đ khi họ gặp phải sự kiện bảo hiểm hoặc rủi ro và có sự bảo hộ của Nhà nước. Mặc dù khái niệm BHXH được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau, nhưng về bản chất, BHXH là hình thức đảm bảo thu nhập cho N Đ, là sản phẩm tất yếu khách quan của xã hội phát triển, là hình thức dịch vụ công phi lợi nhuận để đáp ứng nhu cầu chia sẻ rủi ro trong cộng đồng, là quyền cơ bản của N Đ.
BHXH mang bản chất xã hội, nhưng cũng có tính kinh tế thể hiện ở chỗ nó mang lại lợi ích cho N Đ, NSD Đ và toàn bộ nền kinh tế, mục đích kinh tế và mục đích xã hội luôn luôn được thực hiện đồng thời, đan xen lẫn nhau, là hai mặt không thể tách rời của BHXH. Để thực hiện BHXH cần có vai trò của Nhà nước trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tổ chức thực hiện, đặc biệt là bảo trợ cho quỹ BHXH; N Đ, NSD Đ tham gia đóng góp để hình thành nên quỹ BHXH. Trên cơ sở kế thừa và phân tích các vấn đề nêu trên, tác giả cho rằng: “BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải các rủi ro làm giảm hoặc mất thu nhập từ lao động hoặc phát sinh khác cần được hỗ trợ dựa trên cơ sở hình thành quỹ tài chính dưới sự đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và sự bảo hộ của Nhà nước nhằm ổn định đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời gióp phần đảm bảo an sinh xã hội.” Theo quy định tại Điều 5 Quyết định 969/QĐ-BHXH năm 2019 (ngày 01/10/2019) [7] thì vị trí, chức năng của BHXH huyện như sau: BHXH huyện là cơ quan trực thuộc BHXH tỉnh đặt tại huyện, có chức năng giúp Giám đốc BHXH tỉnh tổ chức thực hiện chế độ, chính sách BHXH, BHYT; quản lý thu, chi tại BHXH, bảo hiểm thất nghiệp, BHYT trên địa bàn huyện theo quy định. Chi tại BHXH là một trong những nhiệm vụ trọng tâm và đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động của ngành BHXH.
Chi tại BHXH được hiểu là 7 việc cơ quan Nhà nước sử dụng số tiền từ nguồn NSNN và nguồn quỹ BHXH để chi trả các chế độ BHXH cho các đối tượng thụ hưởng theo quy định nhằm ổn định cuộc sống của người tham gia BHXH và đảm bảo các hoạt động của hệ thống BHXH. Nguồn tài chính dùng để chi trả BHXH cho người lao động được lấy từ NSNN và qu BHXH. Chi tại BHXH chủ yếu bao gồm các khoản chi cho các đối tượng thuộc diện được hưởng các chế độ BHXH như: hưu trí, ốm đau, thai sản, NDS-PHSK sau ốm đau hoặc sau thai sản, TN Đ-BNN, tử tuất, thất nghiệp. Bản chất của bảo hiểm xã hội BHXH là một bộ phận trong hệ thống ASXH có ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển của toàn bộ nền kinh tế, xã hội, chính trị của quốc gia.
Mục đích hoạt động của BHXH không vì mục tiêu lợi nhuận mà hoạt động vì mục tiêu ASXH. Bản chất chính của BHXH được thể hiện ở những nội dung sau [12]: - BHXH mang tính xã hội, nhằm giải quyết các nhu cầu xã hội, không nhằm mục đích kinh doanh. - BHXH luôn luôn nhằm vào đối tượng quan trọng nhất của xã hội là lực lượng lao động. - BHXH là bảo hiểm thu nhập của N Đ, cho các trường hợp mất hoặc giảm thu nhập khi những rủi ro xảy ra đối với thu nhập của N Đ trong lao động như: ốm đau, tai nạn, thất nghiệp, tuổi già.
Như vậy, BHXH là chỉ bảo hiểm thu nhập từ lao động của N Đ, trong đó N Đ được hưởng lương theo chế độ tiền lương do nhà nước quy định thì bảo hiểm theo tiền lương; N Đ hưởng tiền lương do NSD Đ quyết định thì theo tiền lương đã ký kết trong hợp đồng lao động. - BHXH mang bản chất xã hội nhưng cũng có tính kinh tế, thể hiện ở chỗ nó mang lại lợi ích cho N Đ, người SD Đ và toàn bộ nền kinh tế. - BHXH còn mang tính pháp lý vì nhà nước xây dựng, ban hành áp dụng và kiểm tra, giám sát các hoạt động BHXH [20]. Đặc điểm chi tại Bảo hiểm xã hội Mục tiêu cơ bản của BHXH là đảm bảo đời sống kinh tế cho người lao động và gia đình của họ khi bản thân người lao động bị giảm hoặc mất khả năng lao động.
Ngoài ra khi N Đ hết tuổi lao động về hưu mà có đủ các điều kiện được hưởng chế độ hưu trí thì sẽ được hưởng lương hưu để ổn định cuộc sống khi về già. Gắn lợi ích giữa ĐVSD Đ, N Đ với Nhà Nước. Hoạt động của BHXH không vì mục đích lợi nhuận, BHXH hoạt động vì chính sách an sinh xã hội của Nhà nước. Hoạt động chi tại BHXH được coi là trọng tâm và có vai trò quan trọng trong hoạt động của ngành BHXH, tác động trực tiếp đến quyền lợi của người tham gia BHXH.
Việc chi trả được dựa trên các văn bản qui định của Nhà nước, thực hiện theo quy trình thống nhất qua các khâu và được thống nhất bởi BHXH Việt Nam. Hiện nay, việc chi trả BHXH được thực hiện theo Quyết định 828/QĐ-BHXH ngày 27 tháng 5 năm 2016 về Ban hành Quy định quản lý chi trả các chế độ BHXH, bảo hiểm thất nghiệp [6].